Hiển thị bài đăng được sắp xếp theo mức độ liên quan cho truy vấn nam cao. Sắp xếp theo ngày Hiển thị tất cả bài đăng

Nhận định, lời phê bình về các tác giả - tác phẩm văn học - Phần 2

Lý luận văn học và phê bình văn học là hai phương diện tạo nên vẻ đẹp cho văn học nghệ thuật. Blog Làm văn nghị luận gửi đến bạn đọc phần 2 chuyên đề Nhận định, lời phê bình về các tác giả - tác phẩm văn học, gồm có: Huy Cận, Thạch Lam, Hồ Chí Minh, Nam Cao.


VIII. Huy Cận và "Tràng giang"


1. Ðời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi. Mất bề rộng, ta đi tìm bề sâu. Nhưng càng đi sâu, càng lạnh. Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu lưu trong trường tình cùng Lưu Trọng Lư, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu. Nhưng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ. Ta ngơ ngẩn buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận.

(Hoài Thanh)

2. Nhà thơ đã gọi dậy cái hồn buồn của Ðông Á,...đã khơi lại cái mạch sầu mấy nghìn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này
(Hoài Thanh)
3. Xuân Diệu có nhận xét: Chàng than nỗi tháng ngày vùn vụt, bảo rằng hoa xuân không đậu, đời thoảng mùi ôi, trong khi mình chưa sống hết tuổi xuân, đang độ trẻ măng của đời người! Cái tiếc sớm, cái thương ngừa áy chẳng qua là sự trá hình của lòng ham đời, là cái tật dĩ nhiên của kẻ yêu sự sống.
4. Dường như ở đây nhà thơ đã toát ra một mảng hương sắc sâu xa, cao đẹp nhất của tâm hồn mình"
(Xuân Diệu)

IX. Thạch Lam và "Hai đứa trẻ":

1. Nguyễn Tuân viết: "Xúc cảm của nhà văn Thạch Lam thường bắt nguồn và nảy nở lên từ những chân cảm đối với những con người ở tầng lớp dân nghè. Thạch Lam là một nhà văn quý mến cuộc sống, trang trọng trước sự sống của mọi người xung quanh. Ngày nay đọc lại Thạch Lam, vẫn thấy đầy đủ cái dư vị mà nhã thú của những tác phẩm có cốt cách và phẩm thất văn học". (Theo tuyển tập Nguyễn Tuân, tập III, NXB văn học Hà Nội, 1996, trang 375)
2.

X. Hồ Chí Minh và "Nhật kí trong tù"

1. "Nhật kí trong tù"

- "...Thơ thiên nhiên trong tập Ngục trung nhật kí thật sự có những bài viết rất hay. Có những phác học sơ sài, chân thực và đậm đà, càng nhìn càng thú vị, như 1 bức tranh thủy mặc cổ điển. Có những cảnh lộng lẫy sinh động như những tấm thảm thêu nền gấm chữ vàng. Cũng có những bài thơ làm cho người đọc nghĩ tới những bức sơn mài thâm trầm, rộn rịp..."
(Đặng Thai Mai)
- "...Toàn bộ tập thơ đó là 1 tuyên ngôn về tự do viết với tấm lòng yêu thương, tinh thần kiên quyết, với khí phách anh hùng của 1 người cộng sản vĩ đại"
(Hoàng Trung Thông)

- "Trong thơ Bác, trữ tình và tự sự, lãng mạn và hiện thực, cổ động và giáo dục,phản ánh và triết lí... đã kết hợp với nhau thật chặt chẽ, 1 cách nghệ thuật"

(Hoàng Trung Thông)

- "... Điều quan trọng là, với tất cả phẩm chất của một nghệ thuật lớn, "Nhật kí trong tù" đã sống cuộc sống xứng đáng của nó, đã gieo trồng được những giá trị văn minh và nhân đạo cao nhất vào đời sống tinh thần của nhân dân Việt Nam. Biết bao người, trong đó có không ít nhà văn hóa lớn, hoặc nghệ sĩ tên tuổi ở trong nước và trên thế giới đã nói về giá trị lớn của tập thơ.."
(Phong Lê)
2. "Mộ"
- "HCM rất Đường mà không Đường 1 tí nào. Với 1 chữ "hồng'', Bác đã làm sáng rực lên toàn bộ bài thơ, đã làm mất đi sự mệt mỏi, sự uể oải, sự vội vã, sự nặng nề đã diễn tả trong 3 câu đầu, đã làm sáng rực lên khuôn mặt của cô em sau khi xay ngô tối. Chữ 'hồng'' trong nghệ thuật thơ Đường người ta gọi là "con mắt" thơ (thi nhã hoặc nhãn tự), nó bùng sáng lên,nó cân lại chỉ 1 chữ thôi với 27 chữ khác dầu nặng đến mấy đi chăng nữa. Với chữ ''hồng'' đó có ai còn cảm giác nặng nề, mệt mỏi, nhạc nhằn nữa đâu mà chỉ thấy màu đỏ đã nhuốm lên cả bóng đêm, cả thân hình lao động của cô gái đáng yêu kia. Đó là màu đỏ của tình cảm Bác"

- "Nếu chỉ dừng lại ở 3 câu thơ đầu thì thơ HCM không khác gì thơ Liễu Tông Nguyên đời Đường:
Thiên sơn điêu phi tận
Vạn kính nhân tông diệt
Cô thuyền xuy lạp ông
Độc điếu hàn giang tuyết
(Nghìn non chim bay hết
Muôn nẻo dấu người mất
Trên thuyền cô độc lão già
Một mình cầu sông tuyết lạnh)
(Hoài Thanh)
3. "Tảo giải"
- "Căn cứ vào cách viết mà nói, trong bài thơ này có 1 sự hòa hợp kì diệu giữa bút pháp tượng trưng và bút pháp hiện thực..."
(Đặng Thai Mai)
- "Thế rồi cả 1 phương đông sáng rực, màu trắng biến thành màu đỏ, cách mạng thắng lợi đang quét sạch những tàn dư của bóng tối ban đêm. Và trời đất là cả 1 vùng hơi ấm để đưa con người tới mục đích thắng lợi và tới cõi thơ"
(Đặng Thai Mai)
4. "Vãn cảnh":
- "Có những câu có thể coi là quá giản dị, nhưng tại sao tôi đọc đi đọc lại vẫn thấy một cái gì trong đó mà mình chưa rút hết, ví dụ như là cảnh chiều hôm hoa hồng bên ngoài nở rồi rụng"
(Xuân Diệu)
- "Nổi niềm của một bông hoa bị bỏ quên: bao nhiêu bông hoa bị bỏ quên trong trời đất! Nhất là khi trời đất chưa phải là trời đất của các loài hoa và hương hoa còn phải bay vào trong tù để tìm bạn. Làm sao thấy hết được chiều sâu của 1 bài thơ như vậy! Chiều sâu của một cái nhìn, một tấm lòng tinh tế, chi li mà bao la như trời biển"
(Hoài Thanh)

5. "Tuyên ngôn độc lập":
- Bác có nói: "Tôi tuy viết nhiều nhưng chưa lần nào tạo được bài viết hữu ích như lần này"
- Đồng chí Trường Chinh nhận xét: "Về văn phong ,cách nói và cách viết của Hồ Chủ Tịch có những nét rất độc đáo: nội dung khảng khái, thấm thía đi sâu vào tình cảm của con người, chinh phục cả trái tim và khối óc con người ta: hình thức sinh động, giản dị ,giàu tính dân tộc và tính nhân dân."


XI. Nam Cao và "Chí Phèo", "Đời thừa"


1. - “Nam Cao lạnh lùng quá, kéo mép lên mới nở được một nụ cười khó nhọc(…)thật ra mặt anh ta lạnh nhưng lòng anh ta sôi nổi”

(Nhận xét của nhà văn Tô Hoài) 
- "Con người Nam Cao mảnh khảnh, thư sinh, ăn nói ôn tồn nhiều khi đến rụt rè, mỗi lúc lại đỏ mặt mà kì thực mang trong lòng một sự phản kháng mãnh liệt"

(Nguyễn Đình Thi)

- Nam Cao "biến mình thành kẹp chả dưới tay mình, tự đem mình ra quạt dưới than hồng "


(Nguyễn Minh Châu)
- "Nam Cao thường lấy bản thân mình ra để mà kiểm nghiệm"
(Nguyễn Minh Châu)

- "Năm năm cho một sự nghiệp không lẫn với ai, năm năm trung thành với hướng đi không nghiêng ngả... năm năm cày xới để tự biếm họa, tự khẳng định, để có Nam Cao như hiện nay ta có"


(GS Phong Lê)


2. - “Dù viết về đề tài nào, truyện của Nam Cao cũng thể hiện một tư tưởng chung: nổi băn khoăn đến đau đớn trước thực trạng con người bị hủy hoại về nhân phẩm do cuộc sống đói nghèo đẩy tới”
- “Viết về người trí thức tiểu tư sản nghèo, Nam Cao đã mạnh dạn phân tích và mổ xẻ tất cả, không né tránh như Thạch Lam; không cực đoan, phiến diện như Vũ Trọng Phụng, cũng không thi vị hóa như Nhất Linh, Khái Hưng, ngòi bút của Nam Cao luôn luôn tỉnh táo đúng mực”
( Hà Minh Đức)

- “Nam Cao đã mạnh dạn đi theo một lối đi riêng, nghĩa là không đếm xỉa gì đến sở thích của độc giả. Nhưng tài năng của ông đã đem đến cho văn chương một lối văn mới sâu xa, chua chát và tàn nhẫn, thứ tàn nhẫn của con người biết tin ở tài năng của mình, thiên chức của mình”
(Hà Minh Đức)


- “Trong các trang truyện của Nam Cao, trang nào cũng có những nhân vật chính hoặc phụ đang đối diện với cái chỗ kiệt cùng với đời sống con người để rồi từ đó bắt buộc người ta phải bộc lộ mình ra, trước hết là tâm lí, nhân cách rồi tiếp đến sau cùng là cái nỗi đau khôn nguôi của con người”
(Nguyễn Minh Châu)

-“Trong văn xuôi trước cách mạng, chưa có ai có được ngòi bút sắc sảo, gân guốc soi mói như của Nam Cao”

( Nhà văn Lê Định Kỵ)


XII. Xuân Quỳnh và "Sóng"

1. "Thơ Xuân Quỳnh là thơ của một cánh chuồn chuồn bay tìm chỗ nương thân trong nắng nôi dông bão của cuộc đời ...

Thế giới thơ ca Xuân Quỳnh là sự tương tranh không ngừng giữa khắc nghiệt và yên lành với những biểu hiện sống động và biến hóa khôn cùng của chúng. Ở đó trái tim thơ Xuân Quỳnh là cánh chuồn chuồn báo bão cứ chao đi chao về, mệt nhòai giữa biến động và yên định, bão tố và bình yên, chiến tranh và hòa bình, thác lũ và êm trôi, tình yêu và cách trở ,ra đi và trở lại,chảy trôi phiêu bạt và trụ vững kiên gan, tổ ấm và dòng đời, sóng và bờ ,thuyền và biển,nhà ga và con tàu, trời xanh và bom đạn, gió Lào và cát trắng, cỏ dại và nắng lửa, thủy chung và trắc trở, xuân sắc và tàn phai, ngọn lửa cô đơn và đại ngàn tối sẫm..."
(Chu Văn Sơn)

2. "Điều đáng quý nhất ở Xuân Quỳnh và thơ Xuân Quỳnh là sự thành thật rất thành thật, thành thật trong quan hệ bạn bè, với xã hội và cả tình yêu. Chị quanh co không giấu diếm một điều gì. Mỗi dòng thơ, mỗi trang thơ đều phơi bày một tình cảm, một suy nghĩ của chị. Chỉ cần qua thơ ta biết khá kĩ đời tư của chị. Thành thật, đây là cốt lõi thơ Xuân Quỳnh"
(Võ Văn Trực)


XIII. Khác:

1. Giá trị của đồng tiền trong Truyện Kiều:

Đồng tiền lăn tròn trên lưng con người. Đồng tiền làm cho trái hoá phải, đen hoá trắng và người đàn bà goá phụ trở thành cô dâu mới.
(Sheakespear)

2. Giá trị nhân đạo trong Truyện Kiều:

Lời văn tả ra hình như máu chảy ở đầu ngọn bút, nước mắt thấm trên tờ giấy khiến ai đọc cũng thấm thía ngậm ngùi.
(Mộng Liên Đường)

3. Bình luận về tuổi trẻ Việt Nam:

Một năm khởi đầu từ mùa xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã hội.
(Hồ Chí Minh)

4. Hoài bão thời trai trẻ của cụ Phan Bội Châu:

Muốn vượt bể đông theo chiều cánh gió
Muôn trùng sóng bạc tiến ra khơi.
(Phan Bội Châu)

5. Ca ngợi mùa xuân:

Xuân bước nhẹ trên nhành non lá mới,
Bạn đời ơi vui chút với trời hồng!
Hết lạnh rồi, gió bấc với mưa đông.
(Tố Hữu)


6. Ca ngợi tình bạn:

- Sống không có bạn là chết cô đơn.
(Giooc-giơ Hê –be)
- Mỗi người thêm nhiều con mắt
Mỗi người thêm nhiều cảm rung
Trời cũng thêm nhiều màu sắc
Đất cũng thêm chiều mênh mông.
(Trần Lê Văn – Bạn)

7. Kết hợp giữa tài và đức:

Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó.
(Hồ Chí Minh)

8. Tự hào về đất nước:

Việt Nam đất nước ta ơi
Mênh mông biển lúa, đâu trời đẹp hơn.
(Nguyễn Đình Thi)

9. Đặc điểm của ngôn ngữ:

- Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu của nó và cùng với các sự kiện, các hiện tượng của cuộc sống là chất liệu của Văn học.
- Ngôn ngữ của tác phẩm phải gãy gọn, chính xác, từ ngữ phải được chọn lọc kĩ càng. Chính các tác giả cổ điển đã viết bằng 1 ngôn ngữ như vậy, đã kế tục nhau trau dồi nó từ thế kỉ này sang thế kỉ khác.
- Ngôn ngữ nhân là “tiếng nói nguyên liệu “ còn ngôn ngữ văn học là “ tiếng nói đã được bàn tay thợ nhào luyện.
(Gorki)

10. Sử dụng ngôn ngữ thơ để tạo hình:

Nhịp điệu của câu thơ là nhịp điệu của sóng gió và cũng là nhịp điệu náo nức xôn xao và biết bao sung sướng êm ái trong lòng người trở về quê cũ, nơi đã nuôi mình.
(Tố Hữu)

11. Tính chính xác của ngôn ngữ văn học:

Đối tượng mà anh muốn nói đến dù là cái gì cũng chỉ có 1 từ để biểu hiện nó.
(Môpat xăng - Pháp)

12. Nhận xét về bài thơ Thu Vịnh:

Trong ba bài thơ, bài này mang cái hồn của cảnh vật mùa thu hơn cả, cái thanh, cái trong, cái nhẹ, cái cao. Mang cái thần của cảnh mùa thu. Cái hồn, cái thần của cảnh mùa thu là nằm ở trong bầu trời, ở trên trời thu.
(Xuân Diệu)

13. Nhận xét về Thu Điếu:

Bài thơ Thu Vịnh có thần hơn hết nhưng ta vẫn phải công nhận bài Thu điếu là điển hình ơn cả cho mùa thu của làng cảnh Việt Nam.
(Xuân Diệu)

Phân tích quá trình tha hóa và thức tỉnh của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao

Quá trình tha hóa và thức tỉnh của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao là diễn biến chính làm nên một bước ngoặt lớn đầy kịch tính về cuộc đời và tâm lý nhân vật. Qua đó ta thấy được hiện thực được phơi bày một cách chân thực và đầy bi kịch, cùng tài năng và tấm lòng của tác giả Nam Cao. Cùng Blog Làm văn nghị luận điểm qua các ý chính và cách diễn đạt nhé.

Quá trình tha hóa và thức tỉnh của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao

Là một cây bút xuất sắc trong trào lưu văn học hiện thực, các tác phẩm của nhà văn Nam Cao chứa đựng một nội dung nhân đạo sâu sắc và độc đáo không lẫn vào đâu được. Trong đó, "Chí Phèo" là kiệt tác về đề tài người nông nhân trước Cách mạng tháng tám của ông. Qua nhân vật trung tâm của tác phẩm - Chí Phèo - Nam Cao đã vẽ nên một hiện thực về người nông dân trong xã hội cũ, bị tha hóa nhân cách làm người. Thế nhưng, qua đó, câu chuyện về nhân vật đã gieo vào lòng người đọc niềm tin đối với người lao động bất hạnh, đồng thời nói lên giá trị nhân đạo sâu sắc của tác phẩm.

1. Quá trình tha hóa của nhân vật Chí Phèo:

nông dân lương thiện -------------> lưu manh ---------------> quỷ dữ

1.1 Từ người nông dân lương thiện ----> lưu manh:

- Chí vốn là một thằng không cha, không mẹ, không họ hàng thân thích, không nhà cửa, bạn bè,,, Cả một thời niên thiếu sống bơ vơ: "đi ở cho hết nhà này sang nhà nọ". Lớn lên đi làm canh điền cho cường hào trong vùng. Lúc ấy Chí vẫn là một nông dân lương thiện, khỏe mạnh về thể xác và lành mạnh về tâm hồn - một con người "hiền như đất", giàu lòng tự trọng và biết phân biệt tình yêu cao thượng và nhục dục thấp hèn. Chí từng mơ ước một gia đình "chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải" - một ước mơ giản dị và rất người. Tuy nhiên, một cơn ghen vu vơ của Bá Kiến đã đẩy Chí vào tù, bắt đầu một quá trình tha hóa một con người. Nhà tù vốn là nơi để người có tội chuộc lỗi, là công cụ cải tạo con người. Vậy mà nhà tù thực dân đã tiếp tay cho bọn cường hào, ác bá, giết chết đi phần người trong Chí Phèo, để Chí mãi trượt dài trên dốc của sự tha hóa.
- Trở về sau 7,8 năm tù, Chí Phèo trở thành một "người ngoài" ở làng Vũ Đại vì sự đáng sợ toát lên ở vẻ ngoài: "Cái đầu trọc lốc... trông gớm chết!". Không chỉ biến dạng về diện mạo, hình hài đến trang phục, tính tình cũng khác: "Hắn mặc cái quần nái đen... trông gớm chết". Và Chí, giữa cái xã hội mà ai cũng nghĩ "chắc nó trừ mình ra", lạnh lùng xa lánh hắn, hắn uống rượu, chửi bới, dọa đốt quán, rạch mặt ăn vạ... Hắn đã trở thành một phần tử lưu manh một cách mù quáng.

1.2 Từ một kẻ lưu manh ----> quỷ dữ làng Vũ Đại:

- Không dừng ở đó, dưới bàn tay quỷ quyệt của Bá Kiến, Chí Phèo đã trở thành một công cụ gây tội ác trong mắt người dân làng Vũ Đại.
- Người đẩy Chí vào bước đường ấy là Bá Kiến, vậy mà chẳng những Chí Phèo không thể đòi lại công bằng cho mình mà còn trở thành một tên tay sai, một thứ công cụ: "hắn say thì hắn làm bất cứ việc gì người ta sai hắn làm...". "Hắn tác quái cho bao nhiêu dân làng, phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện... ".
- Và cứ như thế, Chí Phèo trượt dài trong sự tha hóa, bản thân mình nhân hình bị hủy hoại, nhân tính bào mòn, càng ngày càng dấn sâu vào tội ác, vực thẳm của đau thương và tội lỗi, bị chính kẻ thù lợi dụng và trượt dài trên con đường tha hóa, không lối thoát.
=> Tấn bi kịch đầy nghịch lý, vừa là nạn nhân của bọn cường hào, ác bá, vừa là con quỷ dữ của làng, bị mọi người xa lánh, ngoảnh mặt. Ngòi bút nhân đạo của nhà văn Nam Cao đã vạch trần hiện thực trước mắt người đọc, đó là sự cùng quẫn của hoàn cảnh sống, sự nham hiểm, độc ác của bọn cường hào, địa chủ ở nông thôn, sự phi nhân tính của nhà tù thực dân và định kiến của đồng loại đối với những con người cùng đinh, khốn khổ như Chí Phèo. Chính xã hội phi nhân tính đã đẩy con người vào con đường lưu manh, tha hóa.

2. Quá trình thức tỉnh:

2.1 Sau đêm gặp Thị Nở, Chí Phèo sống lại với những cảm xúc đầy nhân tính:

- Lần đầu tiên sau những cơn say vô tận, "hắn tỉnh" và nhận ra cuộc sống xung quanh qua những âm thanh: "Tiếng chim hót... cá...". Những âm thanh cuộc sống rất thực ngoài kia đang đánh thức hắn, kéo hắn ra khỏi những ngày tháng u mê, tăm tối, gợi nhắc đến mơ ước rất người mà hắn từng ấp ủ. Chí cũng nhận ra bản thân mình "hình như đã trông thấy trước... và ốm đau".
- Chí thức tỉnh và sống lại với những cảm xúc rất người cùng ý thức cũng đã trở lại trong hắn.

2.2 Sự chăm sóc của Thị Nở làm tâm hồn Chí Phèo thực sự hồi sinh:

- Đó là lần đầu tiên Chí được chăm sóc bởi bàn tay một người đàn bà, bằng một bát cháo hành giản dị, chân thành của Thị Nở. Đó là bát cháo từ bàn tay ấm nóng tình thương làm "hắn rất ngạc nhiên", "hết ngạc nhiên hắn thấy mắt hình như ươn ướt".
- Bát cháo hành của Thị Nở đã đánh thức trong Chí những tình cảm lành mạnh, những cảm xúc rất người. Hắn khóc. Bởi vì "đây là lần thứ nhất hắn được người ta cho", hắn được cư xử như một con người. Trước đây, muốn được ăn, hắn toàn phải dọa nạt, giật cướp, phải rạch mặt ăn vạ... Hắn nhận bát cháo hành bốc khói mà "bâng khuâng", vừa "vui" vừa "buồn", vừa "có một cái gì đó như là ăn năn". Những cảm xúc con người đã thức dậy trong tâm can của Chí Phèo. Chính hương vị cháo hành - thứ hương vị của tình thương chân thành và cảm động. Hạnh phúc giản dị mà thấm thía lần đầu tiên Chí được nhận lấy đã đánh thức nhân tính bị vùi lấp lâu nay: "Trời ơi! Hắn thèm lương thiện... thân thiện của những người lương thiện." Quả là kì diệu. Cái bản chất đẹp đẽ của người nông dân lương thiện bị vùi dập lâu nay lại bừng sáng trong tâm hồn Chí Phèo.

2.3 Sự thức tỉnh về quyền làm người và bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người lương thiện:

- Thế mà, sự xuất hiện của Thị Nở chỉ như một tia chớp lóe lên rồi vụt tắt trong cuộc đời Chí Phèo. Hình ảnh người đàn bà ấy như một cách để Nam Cao soi rọi ánh sáng lương thiện vào tâm hồn Chí Phèo để làm hồi sinh những phẩm chất người trong hắn.
- Trong lúc tưởng chừng như hạnh phúc đã thuộc về mình, hắn cay đắng nhận ra rằng mình "không thể làm người lương thiện được nữa", Thị Nở từ chối hắn, mọi người từ chối hắn. Bởi hắn chỉ là "một thằng không cha... ăn vạ". Hắn đã gây ra bao bất hạnh cho bao người. Mọi nẻo đường để quay về một cuộc sống bình dị, lương thiện đã bị khép chặt. Hắn thức tỉnh nên ý thức rất rõ bi kịch của cuộc đời mình, thấm thía và đớn đau.
- Hắn tìm đến rượu, nào ngờ đâu không làm hắn say mà "càng uống càng tỉnh". Cái tỉnh của Chí là cái tỉnh của một con người với nỗi đau quá lớn và ý thức rất rõ về cuộc đời mình trong sự bất lực, buông xuôi. Sự từ chối của Thị Nở đã khép lại bao hy vọng của hắn. Hơn bất cứ lúc nào, hắn cảm thấy nỗi bất hạnh to lớn đè nặng tâm hồn mình, để rồi chỉ có thể bất lực mà "ôm mặt khóc rưng rức".
- Không còn con đường nào khác, Chí Phèo vác dao đến nhà Bá Kiến. Chí ý thức rất rõ tình cảnh của mình. Đến nhà Bá Kiến, Chí Phèo muốn đòi "lương thiện", đòi quyền làm người - một con người đúng nghĩa. "Tao muốn làm người lương thiện... nữa". Những vết cắt của tội lỗi đã hằn trên khuôn mặt hắn, hắn biết rằng đã quá muộn màng để quay đầu. Chí Phèo vung dao giết Bá Kiến nhưng hắn không để mình trở lại cuộc sống của một quỷ dữ như trước nữa. Và lưỡi dao oan nghiệt cũng đã kết thúc một kiếp người khốn khổ. Cái chết Chí Phèo đầy uất hận nhưng đó là nỗi khao khát của người nông dân bị tha hóa, muốn được lương thiện. Chí Phèo chết bởi hắn khao khát lương thiện nhưng định kiến xã hội đã không chừa cho hắn cơ hội. Chí Phèo chết trong sự nhận thức rất rõ về chính mình và bi kịch bị từ chối ấy.

3. Đánh giá:

- Miêu tả quá trình tha hóa và thức tỉnh của nhân vật Chí Phèo là yếu tố làm nên giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm. Tác phẩm là tiếng nói đanh thép, tố cáo chế độ thực dân phong kiến đã xô đẩy bao con người lương thiện đến tận cùng của sự tha hóa. Tác phẩm còn là niềm tin yêu vào những người lao động cùng khổ: Xã hội dù đã hủy hoại nhân hình nhân tính của con người nhưng bản chất ốt đẹp và khát vọng làm người của họ vẫn hiện hữu.
- Thể hiện quá trình tha hóa và thức tỉnh, Nam Cao đã thể hiện bản lĩnh của một cây bút hiện thực sắc sảo, tạo nên một hình tượng nghệ thuật đa diện có sức sống nội tạng, để lại nhiều suy ngẫm trong lòng độc giả.
=> Quá trình tha hóa và thức tỉnh của Chí Phèo được nhà văn Nam Cao thể hiện hết sức thành công bằng biện pháp nghệ thuật nghiêm ngặt của một cây bút văn học hiện thực xuất sắc cùng với cảm xúc của một trái tim "sống đời, trải đời" giàu tình thương với con người và cuộc sống, làm cho "người gần người hơn".

Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương và thái độ cần có khi chọn nghề

Nhắc đến Nam Cao, ta lại nhớ đến một nhà văn luôn trăn trở về đời, về người, với bao chiêm nghiệm và triết lí sâu sắc trong từng câu từ đậm chất nhân văn. Qua mỗi tác phẩm, Nam Cao để lại trong lòng độc giả mỗi dư vị riêng và đồng cảm riêng. Trong đó, một ý nghĩ rất đời của nhân vật Hộ đã dấy lên câu hỏi rằng mỗi người cần có thái độ như thế nào khi chọn nghề và làm việc: "Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì đã là một sự bất lương... " (Đời thừa). Cùng Blog Làm văn nghị luận tham khảo bài viết để có thái độ chọn nghề với đề bài sau.



Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương và thái độ cần có khi chọn nghề - Blog Làm văn nghị luận


Đề bài: Trong truyện ngắn Đời thừa, Nam Cao đã để nhân vật Hộ nghĩ rằng: “Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương... ”. 
Ý kiến của bạn về vấn đề này? Theo bạn, mỗi người cần có thái độ như thế nào khi chọn nghề?

Gợi ý


1. Mở bài:

Thời gian qua kẽ tay
Làm khô những chiếc lá
Riêng những câu thơ còn xanh
Riêng những bài hát còn xanh


Những tác phẩm nghệ thuật đạt đến chuẩn mực của cái hay, cái đẹp sẽ “vượt qua mọi sự băng hoại của thời gian và chỉ mình nó không thừa nhận cái chết”. Cũng như dù thời gian có trôi thì giá trị của câu nói tưởng chừng giản đơn nhưng đầy ngụ ý của nhân vật Hộ trong "Đời thừa" của nhà văn Nam Cao vẫn luôn gợi nhắc mỗi người cần có thái độ đúng đắn khi chọn nghề và làm việc: "Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương... ".

2. Thân bài:

a. Giải thích:

- Nghề nghiệp: việc mà ta lựa chọn và thực hiện để sản xuất ra những giá trị về vật chất lẫn tinh thần phục vụ cho cuộc sống, là mục tiêu ta theo đuổi, là ước mơ, là thứ gắn bó với ta trong suốt quãng đời của mình.

- "Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương": chỉ sự cẩu thả, thái độ hời hợt, vô trách nhiệm với việc mình làm, làm cho có, không quan tâm đến hậu quả và hệ lụy. Đối với nhà văn Nam Cao, ý thức trách nhiệm đối với công việc chính là thước đo nhân cách con người. Đó là lí do vì sao nhà văn cho rằng "sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương". Bởi nghề nghiệp tượng trưng cho lý tưởng sống của mình, nếu "cẩu thả" sẽ gây ra những hậu quả đáng tiếc. Ví dụ như nếu một bác sĩ cẩu thả thì người bệnh sẽ lâm vào tình trạng hiểm nghèo, một kỹ sư công trình cẩu thả thì biết bao người gặp nguy hiểm...
=> Vậy câu hỏi đặt ra là ta phải chọn nghề nghiệp như thế nào để có thể toàn tâm toàn ý với công việc và hoàn thành tốt trách nhiệm của mình?
=> Lựa chọn nghề nghiệp với thái độ nghiêm túc, chọn nghề mình thích, ước mơ và có khả năng thực hiện, khi đã chọn phải toàn tâm toàn ý làm việc, theo đuổi lý tưởng cao đẹp đó.

b. Chứng minh:

- Tinh thần trách nhiệm là yếu tố then chốt dẫn đến kết quả. Bởi dẫu có tài mà không có tâm thì cũng không thể phát huy được hết khả năng vốn có, công việc không thể đạt được hiệu quả tối ưu. Nếu như đến công việc ta làm - thứ gắn liền với lợi ích của cá nhân ta mà bản thân còn không có trách nhiệm thì làm sao có thể làm chủ cuộc sống của mình, nói gì đến lắng lo cho người xung quanh.

Công việc của mỗi người đều có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến người khác, đến hiệu quả của cả một hệ thống làm việc, một dây chuyền sản xuất. Bởi chúng ta sống trong một cộng đồng, một xã hội, mà bất cẩn trong công việc tức là thiếu trách nhiệm với cả cộng đồng, với công việc chung của mọi người. Một kĩ sư nhầm lẫn trong thiết kế sẽ kéo theo sự sai sót trong quá trình thi công, công việc sẽ vì thế mà phải đình đốn. Mỗi người tựa như một mắt xích trong guồng máy chung đang hoạt động. Nên vô trách nhiệm trong công việc của bản thân mình cũng đồng thời sẽ là lãng phí không chỉ những của cải vật chất mà cả công sức của người khác, ảnh hưởng đến tất cả mọi người.

Mỗi nghề nghiệp luôn đòi hỏi ở con người một trái tim, lương tâm, ý thức. Bởi vì có những sai lầm sẽ không bao giờ có cơ hội sửa chữa, làm lại.

Dẫn chứng thực tế

Nguyên nhân:
Lối sống nhanh, sống vội, vô cảm, dẫn đến sự ích kỉ, vô tâm, thiếu trách nhiệm, chán nản, bất mãn với công việc mà mình đang làm.

c. Bài học:

Nghề nghiệp, với một số người chỉ là cách thức mưu sinh, cũng có người coi đó là nghĩa vụ lao động để đóng góp và cống hiến, lại có người làm việc vì niềm hứng thú, đam mê. Chúng ta đứng ở góc độ nào để nhìn nhận, điều đó dẫn đến ý thức trách nhiệm đối với nghề của mình.
Nếu xem nghề nghiệp là cách mưu sinh kiếm sống, chúng ta chỉ giới hạn ở mức độ hoàn thành công việc mà không cố gắng sáng tạo nên những điều mới mẻ, hay sẽ vì món lợi trước mắt mà sẵn sàng đánh đổi nhiều thứ.
Khi coi nghề là lý tưởng, là niềm vui, chúng ta sẽ có động lực và hoàn thành tốt trách nhiệm của mình.

=> Cần thận trọng ngay từ lúc lựa chọn nghề nghiệp, để chọn lựa được công việc phù hợp với sở thích, ý muốn của bản thân, không chạy theo số đông, phải xem xét đến khả năng của mình. Bởi chỉ khi chọn nghề mà mình đam mê, ta mới có thể gắn bó với nó một cách bền vững lâu dài, mới có động lực để vượt qua những trở ngại mà bất cứ nghề nào cũng có


=> Chọn nghề là một quyết định quan trọng trong cuộc đời mỗi con người. Bởi vậy, đừng bao giờ vội vàng, hấp tấp hay cẩu thả.

3. Kết.

Quả thật "Sự cẩu thả trong bất cứ nghề gì cũng là một sự bất lương... ". Quan niệm của nhà văn là một nhận thức đúng đắn về thái độ trách nhiệm của mỗi người đối với nghề nghiệp của mình, ngay từ khi chọn nghề đến cả quá trình gắn bó với nó. Chính điều đó sẽ làm nên cuộc sống đúng nghĩa.

"Sống trên đời sống cần có một tấm lòng"

Một số quan niệm về văn chương

Mỗi nhà văn luôn có một thế giới nghệ thuật riêng, nơi ấy, quan niệm về văn chương làm nên diện mạo riêng cho người cầm bút. Cùng điểm qua các quan niệm về văn chương của những cây bút tên tuổi như Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Nam Cao... qua bài viết sau.


- Đối với tôi văn chương không phải là 1 cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên ; trái lại, văn chương là 1 thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để tố cáo và thay đổi 1 cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người trong sạch và phong phú hơn.
(Thạch Lam)
- M.Gorki nói: văn học “ giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lý.”
- Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than.
(Nam Cao – Trăng sáng)



* Bút chiến với nhóm Tự lực văn đoàn:

Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời.
(Vũ Trọng Phụng)


* Nhận định về "chất thép" trong thơ Hồ Chí Minh:

Khi Bác nói trong thơ có thép ta cũng cần tìm hiểu thế nào là thép trong thơ. Có lẽ phải hiểu 1 cách rất linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện thép, lên giọng thép mới có tinh thần thép.




* Ý kiến về văn chương:


Văn chương có loại đáng thờ và loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương, loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người.
(Nguyễn văn Siêu)



* Vai trò quan trọng của tình cảm trong thơ:

- Thơ phát khởi trong lòng người ta.
(Lê Quý Đôn)
- Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần.
(Ngô Thì Nhậm)


* Quan điểm nghệ thuật văn chương:

- Văn hoá nghệ thuật là 1 mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy.
(Hồ Chí Minh)
- Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo 1 vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có.
(Nam Cao - Đời thừa)


- Nguyễn Tuân: Văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật.
- Raxun Gamzatốp: Giống như ngọn lửa bốc lên từ những cành khô, tài năng bắt nguòn từ những tình cảm mạnh mẽ của con người.
- Thơ sinh ra từ tình yêu và lòng căm thù, từ nụ cười trong sáng hay từ những giọt nước mắt đắng cay.

(trích trong "Đaghetxta của tôi")
- Lecmôntốp: Có những đêm không ngủ, mắt rực sáng và thổn thức, lòng ngập tràn nhớ nhung... khi đó tôi viết.
- Nêkratxôp: Nếu những nỗi đau khổ từ lâu bị kiềm chế, nay sục sôi dâng lên trong lòng thì tôi viết.- Tố Hữu: Mỗi khi có cái gì chất chứa trong lòng, không nói ra không chịu được thì lại thấy cần làm thơ.

- Bielinxki: Nhà thơ, ngay cả các nhà thơ vĩ đại nhất cũng phải đồng thời là những nhà tư tưởng.
- Viên Mai: Tài gia tình chi phát, tài thịnh tình tắc thêm (Nghĩa là "Tài là ở tình phát ra, tài ao ắt tình sâu")
- Enxa Triôlê: Nhà văn là người cho máu.
- Ngô Thì Nhậm: Phải xúc động hồn thơ thì ngọn bút mới có thần.
- Nguyên Hồng: Những gì tôi viết ra là những gì thương yêu nhất của tôi, những ước mong nhức nhối của tôi.
- Sóng Hồng: Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp.
- Anđecxen: Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do chính cuộc sống viết ra.
- Secnưsepki: Cái đẹp là cuộc sống.
- Gorki: Người sáng tác là nhà văn và người tạo nên số phận cho tác phẩm là độc giả.
- Phạm Văn Đồng: Văn học, nghệ thuật là công cụ để hiểu biết, để khám phá, để sáng tạo thực tại xã hội.
- Vì thơ là nhuỵ của cuộc sống nên nhà thơ đi hút cho được cái nhuỵ ấy và phấn đấu sao cho cuộc đời của mình cũng có nhuỵ
- Xuân Diệu: Sáng tác thơ là một việc do cá nhân thi sĩ làm, một thứ sản xuất đặc biệt và cá thể. Anh phải đi sâu vào tâm hồn cá biệt của anh để nói cái to tát của xã hội, cái tốt đẹp của chế độ, để tránh cái khô khan, nhạt nhẽo, anh phải có cá tính, anh phải trau dồi cái độc đáo mà công chúng rất đòi hỏi. Nhưng đồng thời anh phải đấu tranh để cái việc sự sáng tạo ấy không trở thành anh hùng chủ nghĩa.
- Đặng Thai Mai: Điều quan trọng hơn hết trong sự nghiệp của những nhà văn vĩ đại ấy lại là cuộc sống- trường đại học chân chính của thiên tài. Họ đã biết đời sống của thời đại, đã sâu sắc cảm thấy mọi nỗi đau đớn của con người trong thời đại, đã rung động tận đáy tâm hồn với những nôi lo âu, bực bội tủi hổ và
những ước mong tha thiết nhất của loài người. Đó chính là cái hơi thở, sức sống của những tác phẩm vĩ đại.

So sánh hình ảnh bát cháo hành trong tác phẩm Chí Phèo với bát cháo cám trong tác phẩm Vợ nhặt

Đến với mỗi tác phẩm văn học, ta tìm thấy ở đó những hình tượng, chi tiết nghệ thuật khác nhau mang giá trị tư tưởng, tình cảm của tác giả, cũng như dụng ý nghệ thuật mà nhà văn muốn gửi gắm đến bạn đọc. Qua tác phẩm "Chí Phèo" của nhà văn Nam Cao, hình ảnh bát cháo hành trở thành mấu chốt thức tỉnh một con người. Không chỉ thế, khi trải lòng với "Vợ nhặt" của nhà văn Kim Lân, hẳn là trong lòng độc giả không thôi day dứt với hình ảnh bát cáo cám đầy ám ảnh.

Xuân Diệu đã cung cấp nguồn vật liệu mới để xây cao nền thi ca Việt Nam

Là một thi sĩ có diện mạo riêng trên thi đàn Văn học Việt Nam, Xuân Diệu được Hoài Thanh nhận định là một hồn thơ "thiết tha, rạo rực, băn khoăn". Đóng góp của ông không dừng lại ở đó, "Xuân Diệu đã cung cấp nguồn vật liệu mới để xây cao nên thi ca Việt Nam" và ta có thể nhận thấy điều đó một cách rất rõ ràng qua ba bài thơ tiêu biểu "Vội vàng, Thơ duyên, Đây mùa thu tới".


Đề bài: Anh/chị hãy phân tích ba bài thơ "Vội vàng, Thơ duyên, Đây mùa thu tới" để chứng minh cho nhận định "Xuân Diệu đã cung cấp nguồn vật liệu mới để xây cao nền thi ca Việt Nam".
Dàn ý:

1. Mở bài

2. Thân bài:

a. Giải thích:

- Vật liệu mới: nội dung, nghệ thuật mới mẻ mà Xuân Diệu đã sáng tạo nên qua những câu thơ độc đáo, đóng góp cho nên thơ ca hiện đại.
Xuân Diệu được xem là "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới" -  cái mới mà ông đem đến đó chính là những "vật liệu mới để xây cao nền thi ca Việt Nam". Ông được bình chọn là gương mặt tiêu biểu và xuất sắc trong phong trào Thơ mới, được xem là ông hoàng thơ tình ái, tiêu biểu cho phong cách của chàng thi sĩ đa tình đa tài này là ba bài thơ "Vội vàng, Thơ duyên, Đây mùa thu tới".

b. Phân tích chứng minh

- Cái mới mà Xuân Diệu đem đến cho thi ca không chỉ là những hình ảnh thơ, giọng thơ, vần thơ... mà ngay từ trong từng ngôn từ, từng câu chữ, từng vần điệu đã gợi nên những cảm giác và liên tưởng mới mẻ, táo bạo.
- Phân tích "Thơ duyên": Tình yêu đẹp giữa thiên nhiên tình tự
Bức tranh thiên nhiên:
+ "Chiều mộng, nhánh duyên", bầu trời "đổ trời xanh ngọc qua muôn lá", âm thanh "động tiếng huyền", thu mô hồ, dịu dàng, du dương trong nhịp tim yêu.
+ Con đường "lả lả, xiêu xiêu"...
"Câu thơ chỉ mất đi một tí rõ ràng để thêm rất nhiều thơ mộng" (Hoài Thanh)
=> Buổi chiều thu chỉ có trong thơ Xuân Diệu với hình ảnh, âm thanh, đường nét riêng.
Bức tranh tình yêu:
+ Tình yêu trong thơ ca: Thơ xưa (dẫn chứng). Tình yêu trong "Thơ duyên" là tình yêu mới chớm nở, có sự rụt rè, bối rối:
"Em bước điềm nhiên không vướng chân
Anh đi lững thững chẳng theo gần
Bâng khuâng nhưng giữa bài thơ dịu
Anh với em như một cặp vần"
+ Biểu hiện  bên ngoài: "điềm nhiên, lững thững, nghe ý bạn", bên trong lòng lại "lần đầu rung động nỗi thương yêu". Nghệ thuật so sánh "Anh với em như một cặp vần" thể hiện sự tâm đầu ý hợp, gắn bó, để rồi "Lòng anh thôi đã cưới lòng em" (cưới)
"Tình trong như đã mặt ngoài còn e" (Nguyễn Du)
- Phân tích "Vội vàng": Bản tuyên ngôn sống thiết tha, rạo rực, băn khoăn của thi nhân.
Cảm nhận của nhà thơ về thiên nhiên:
+ Thiên đường trên mặt đất và mùa xuân là mùa yêu.
+ Quan niệm về thời gian
+ Quan niệm sống: khát sống, thèm yêu
Yếu tố nghệ thuật: lối vắt câu trùng điệp, động từ mạnh mẽ, cách dùng từ "tôi" - "ta", từ loại...
- Phân tích "Đây mùa thu tới"
Bức tranh mùa thu đẹp, buồn, nhuốm vẻ tàn phai, rơi rụng. Lối dùng từ diễn đạt, hình ảnh mới mẻ: "hơn một, rủa, run rẩy rung rinh, Đôi nhánh khô gầy sương mỏng manh"...
Niềm khát khao giao cảm với đời, đôi mắt thời gian...
- Ý nghĩa của sự đổi mới của Xuân Diệu mang đến: Tạo nên nét riêng mới mẻ, góp phần làm phong phú cho thi ca. Hiện đại hóa thơ ca.
- Xuân Diệu đem đến sự mới mẻ là do cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ, ảnh hưởng của thơ ca tượng trưng Pháp.