Hiển thị các bài đăng có nhãn cách làm. Hiển thị tất cả bài đăng
So sánh hình ảnh bát cháo hành trong tác phẩm Chí Phèo với bát cháo cám trong tác phẩm Vợ nhặt
Đến với mỗi tác phẩm văn học, ta tìm thấy ở đó những hình tượng, chi tiết nghệ thuật khác nhau mang giá trị tư tưởng, tình cảm của tác giả, cũng như dụng ý nghệ thuật mà nhà văn muốn gửi gắm đến bạn đọc. Qua tác phẩm "Chí Phèo" của nhà văn Nam Cao, hình ảnh bát cháo hành trở thành mấu chốt thức tỉnh một con người. Không chỉ thế, khi trải lòng với "Vợ nhặt" của nhà văn Kim Lân, hẳn là trong lòng độc giả không thôi day dứt với hình ảnh bát cáo cám đầy ám ảnh.
Xuân Diệu đã cung cấp nguồn vật liệu mới để xây cao nền thi ca Việt Nam
Là một thi sĩ có diện mạo riêng trên thi đàn Văn học Việt Nam, Xuân Diệu được Hoài Thanh nhận định là một hồn thơ "thiết tha, rạo rực, băn khoăn". Đóng góp của ông không dừng lại ở đó, "Xuân Diệu đã cung cấp nguồn vật liệu mới để xây cao nên thi ca Việt Nam" và ta có thể nhận thấy điều đó một cách rất rõ ràng qua ba bài thơ tiêu biểu "Vội vàng, Thơ duyên, Đây mùa thu tới".
Đề bài: Anh/chị hãy phân tích ba bài thơ "Vội vàng, Thơ duyên, Đây mùa thu tới" để chứng minh cho nhận định "Xuân Diệu đã cung cấp nguồn vật liệu mới để xây cao nền thi ca Việt Nam".
Dàn ý:
1. Mở bài
2. Thân bài:
a. Giải thích:
- Vật liệu mới: nội dung, nghệ thuật mới mẻ mà Xuân Diệu đã sáng tạo nên qua những câu thơ độc đáo, đóng góp cho nên thơ ca hiện đại.
Xuân Diệu được xem là "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới" - cái mới mà ông đem đến đó chính là những "vật liệu mới để xây cao nền thi ca Việt Nam". Ông được bình chọn là gương mặt tiêu biểu và xuất sắc trong phong trào Thơ mới, được xem là ông hoàng thơ tình ái, tiêu biểu cho phong cách của chàng thi sĩ đa tình đa tài này là ba bài thơ "Vội vàng, Thơ duyên, Đây mùa thu tới".
b. Phân tích chứng minh
- Cái mới mà Xuân Diệu đem đến cho thi ca không chỉ là những hình ảnh thơ, giọng thơ, vần thơ... mà ngay từ trong từng ngôn từ, từng câu chữ, từng vần điệu đã gợi nên những cảm giác và liên tưởng mới mẻ, táo bạo.
- Phân tích "Thơ duyên": Tình yêu đẹp giữa thiên nhiên tình tự
Bức tranh thiên nhiên:
+ "Chiều mộng, nhánh duyên", bầu trời "đổ trời xanh ngọc qua muôn lá", âm thanh "động tiếng huyền", thu mô hồ, dịu dàng, du dương trong nhịp tim yêu.
+ Con đường "lả lả, xiêu xiêu"...
"Câu thơ chỉ mất đi một tí rõ ràng để thêm rất nhiều thơ mộng" (Hoài Thanh)
=> Buổi chiều thu chỉ có trong thơ Xuân Diệu với hình ảnh, âm thanh, đường nét riêng.
Bức tranh tình yêu:
+ Tình yêu trong thơ ca: Thơ xưa (dẫn chứng). Tình yêu trong "Thơ duyên" là tình yêu mới chớm nở, có sự rụt rè, bối rối:
"Em bước điềm nhiên không vướng chân
Anh đi lững thững chẳng theo gần
Bâng khuâng nhưng giữa bài thơ dịu
Anh với em như một cặp vần"
+ Biểu hiện bên ngoài: "điềm nhiên, lững thững, nghe ý bạn", bên trong lòng lại "lần đầu rung động nỗi thương yêu". Nghệ thuật so sánh "Anh với em như một cặp vần" thể hiện sự tâm đầu ý hợp, gắn bó, để rồi "Lòng anh thôi đã cưới lòng em" (cưới)
"Tình trong như đã mặt ngoài còn e" (Nguyễn Du)
- Phân tích "Vội vàng": Bản tuyên ngôn sống thiết tha, rạo rực, băn khoăn của thi nhân.
Cảm nhận của nhà thơ về thiên nhiên:
+ Thiên đường trên mặt đất và mùa xuân là mùa yêu.
+ Quan niệm về thời gian
+ Quan niệm sống: khát sống, thèm yêu
Yếu tố nghệ thuật: lối vắt câu trùng điệp, động từ mạnh mẽ, cách dùng từ "tôi" - "ta", từ loại...
- Phân tích "Đây mùa thu tới"
Bức tranh mùa thu đẹp, buồn, nhuốm vẻ tàn phai, rơi rụng. Lối dùng từ diễn đạt, hình ảnh mới mẻ: "hơn một, rủa, run rẩy rung rinh, Đôi nhánh khô gầy sương mỏng manh"...
Niềm khát khao giao cảm với đời, đôi mắt thời gian...
- Ý nghĩa của sự đổi mới của Xuân Diệu mang đến: Tạo nên nét riêng mới mẻ, góp phần làm phong phú cho thi ca. Hiện đại hóa thơ ca.
- Xuân Diệu đem đến sự mới mẻ là do cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ, ảnh hưởng của thơ ca tượng trưng Pháp.
"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc" của nhà thơ Quang Dũng
Bằng một nét rất riêng, đậm dấu ấn sáng tạo và đầy cá tính, Quang Dũng đã dựng nên bức tượng đài người lính - anh "vệ trọc", "đoàn binh không mọc tóc" đầy ấn tượng mới mẻ và sâu sắc trong lòng bao độc giả qua bài thơ "Tây Tiến".
Đề bài: Phân tích đoạn thơ sau trong bài "Tây Tiến" của Quang Dũng:
Vài quan niệm văn chương của các nhà văn lớn
Đối với dạng bài làm văn nghị luận, để bài viết trở nên có chiều sâu và "nặng kí" hơn, hẳn người viết phải đưa vào đó lí lẽ và lập luận mang tính triết lí của các nhà văn lớn. Blog xin trích dẫn vài quan niệm về văn học nghệ thuật của một vài người "nghệ sĩ của ngôn từ" sau.
"Văn học nghệ thuật là một cái gì phải kinh qua sự phê phán, nhận xét của đông đảo của quần chúng, lại kinh qua sự gạn lọc của thời gian. Trừ những sáng tác hiển nhiên có hại, còn thì đối với tất cả những sáng tác của bất cứ ai, viết về bất cứ đề tài gì, không thể nhìn qua một lượt rồi phân loại một cách khinh suất như người ta phân loại thức ăn: cái này tươi, cái này ươn... v.v
Ai cũng có quyền phê bình nhận định, nhưng sự phê bình vẫn phải xuất phát từ những động cơ thật tốt: thương yêu bạn bè, đem tình đem lý ra mà bình tĩnh bàn bạc để xây dựng cho từng tác giả, từng tác phẩm và nhằm vào mục đích cuối cùng là đẩy phong trào văn học tiến triển mãi lên, nẩy nở mãi ra, chứ không đập túi bụi cho nó tàn lụi đi, đưa vào cớ này hay cớ khác. Hết sức tránh sự hàm hồ, nóng nảy và (như người ta vẫn thường nói:) thô bạo"
Nhà văn Sơn Nam
"Trong văn học, chúng ta phải kịp thời vạch ra và đấu tranh với những khuynh hướng tư tưởng xấu, nhưng nhất thiết chúng ta phải phân biệt cho được những phần tử mang động cơ xấu lợi dụng ngòi bút với những người cầm bút có những phút yếu đuối, và những người cầm bút chân chính luôn luôn tìm tòi, thể nghiệm, cho nên đã có những bước vấp váp. Với những bước vấp váp ấy, phê bình cần phải chỉ ra nhưng không nên thành kiến, lại càng không nên lấy đó để kết luận, ràng buộc vào cả một cuộc đời, một sự nghiệp.........
Những người lớn chúng ta có một cái tật xấu là chuyên viết những cuốn sách khuyên trẻ con đi phiêu lưu, còn mình thì ngồi nhà, để không bao giờ phải trả giá. Cái tiêu chuẩn cuối cùng để định giá cuộc đời một nhà văn, một người nghệ sĩ nói chung là chất lượng những tác phẩm anh ta đem đến cho mọi người, chứ không phải một vài bước vấp váp trên đường tìm kiếm.
......Tác phẩm thì nhiều mà các tờ báo văn học của ta chỉ đủ sức in một bài phê bình về một cuốn sách. Tác phẩm bị chê hay được khen trong một bài trở thành thứ định mệnh đã an bài. Nếu người phê bình đúng thì không sao, nhưng có thể sai, có thể có những ý kiến không thích đáng chứ?Như chúng ta thường biết, sự thật cuối cùng bao giờ cũng nảy ra bằng trao đổi, tranh luận. Làm sao để cho có không khí trao đổi, tranh luận trong văn học thật cởi mở và bổ ích?"
Nhà văn Nguyễn Minh Châu
"Để cứu vãn văn bản - có nghĩa là, để biến nó từ một ảo tưởng về ý nghĩa đến sự tự ý thức rằng ý nghĩa là vô định- người đọc phải nghi ngờ rằng mỗi dòng chữ của nó nhượng mình cho một ý nghĩa bí mật khác; chữ nghĩa, ngược lại cái nó nói ra, giấu kín cái không nói; vinh quang của người đọc chính là khám phá ra rằng văn bản có thể nói bất cứ điều gì, trừ cái điều mà tác giả của nó muốn nó mang nghĩa; vừa vào lúc một ý nghĩa được cho là khám phá ra, chúng ta lại chắc chắn là nó không phải là cái có thực; cái có thực là cái cần phải thêm vào hơn nữa và cứ như thế mà tiếp tục; những người hylics - những kẻ thua cuộc - là những người chấm dứt quá trình bằng cách nói rằng "TÔI ĐÃ HIỂU".
Nhà nghiên cứu Umberto Eco
Chất thơ trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
Chất thơ đã trở thành một trong những đặc điểm của phong cách Thạch Lam giúp ông đưa hiện thực vào trang sách một cách chân thành, sâu lắng. Chất thơ trong truyện ngắn "Hai đứa trẻ" (SGK Ngữ Văn 11) đã góp phần mở rộng tâm hồn, đem đến cho người đọc một cái gì nhẹ nhõm thơm lành và mát dịu.
Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu
Xuân Diệu - nhà thơ mới nhất trong những nhà Thơ mới, nhà thơ của sự sáng tạo, hấp dẫn người đọc bởi phong cách độc đáo được biểu hiện qua các phương diện: cách nhìn hiện thực và cách phản ánh hiện thực. Blog Làm văn nghị luận giới thiệu đến bạn đọc phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu qua bài viết.
1. Một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm trước sự vận động của thời gian.
Rõ ràng không phải đến Xuân Diệu thơ VN mới nói đến thời gian. Nhưng chỉ với XD thời gian mới trở thành một nỗi ám ảnh. "Thời gian trong thơ ông không chỉ là cảm xúc, là thi hứng, mà còn là nhân tố kiến trúc của tác phẩm nghệ thuật. Có thể nói, XD luôn nhìn đời bằng con-mắt-thời-gian; "chất Xuân Diệu", phong cách thơ ông là ở đó."
Ở XD thời gian đã tạo nên một sức ép lớn "Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân". Ngay khi đang thanh niên thi sĩ đã vẽ ra cái già, cái chết để báo động:
Hết ngày, hết tháng, hết!em ơi
Kinh hãi không gian quặn tiếng còi
(Hết ngày hết tháng)
Trong thơ XD, tác giả đem đến tuổi trẻ tiếp thêm sinh khí cho sự vật, thời gian cũng đem lại sự phôi pha, héo úa. Nhà thơ đã cảm nhận thời gian trôi đi ngay trong từng khoảnh khắc của hiện tại:
Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua
Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già
(Vội vàng)
Nhạy cảm với bước đi của thời gian, kèm theo đó là sự lo âu:
Thời gian rót từng giọt buồn tê héo
Sự sống đi như hương bỏ hoa chiều
(Thanh niên)
Những câu thơ tả bước đi của thời gian thường là những câu thơ cực kì tinh vi của XD:
Hoa thu không nắng cũng phai màu
Trên mặt người kia in nét đau
(Hoa nở để mà tàn)
Gió lạnh rồi đây sắp nhớ thương
Sương the bảng lảng bạc cây tùng
Và ý thức sự trôi chảy của thời gian nên XD luôn vội vàng, cuống quýt:
Mau lên chứ, vội vàng lên với chứ
(Vội vàng)
2. Xuân Diệu - một trái tim luôn hướng tới tuổi trẻ, tình yêu nơi trần thế bằng niềm yêu đời, yêu cuồng nhiệt, sôi nổi:
Bởi "khát khao giao cảm với đời" nên cái "tôi" XD luôn thiết tha yêu sống, cuộc sống hiểu theo nghĩa trần thế nhất. Ông kêu gọi "sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn" lòng ham sống bộc lộ hết mức:
Kẻ đựng trái tim trìu máu đất
Hay tay chín móng bám vào đời
(Hư vô)
Còn trong địa hạt của tình yêu, ông hoàng thơ tình đã mang đến cho thơ tình yêu một quan niệm đầy đủ nhất và cách thể hiện phong phú, chân thực và tinh hoa nhất. Thơ tình XD luôn dào dạt:
Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ
Phải nói yêu đến trăm bận ngàn lần
(Phải nói)
Đã hôn rồi hôn lại
Hôn đến mãi muôn đời
Đến tan cả đất trời
Anh mới thôi dào dạt
(Biển)
Chắc hẳn những người yêu nhau nhiều thế hệ sẽ khó mà quên được câu thơ diễn tả những rung động đầu đời này:
Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn, không hiểu vì sao tôi buồn
(Chiều)
Và sẽ luôn ngạc nhiên trước một nỗi khát khao thật táo bạo mà thành thực:
Những lúc môi ta kề miệng thắm
Trời ơi, ta muốn uống hồn em!
(Vô biên)
Và lòng yêu cuộc sống, ham sống, XD sống trẻ, sống yêu cho đến phút cuối cùng:
Xin hãy cho tôi được giã từ...
vẫy chào cõi thực để vào hư.
Trong hơi thở cuối dâng trời đất
cũng vẫn si tình đến ngất ngư...
(Gĩa từ)
XD say tình và say cảnh. Thiên nhiên trong thơ XD tràn trề nhựa sống được khám phá bằng lăng kính ái ân (Vội vàng, Thơ duyên).
3. Xuân Diệu - nhà thơ của sự nỗ lực cách tân thơ Việt và "thức nhọn giác quan"
a) Xuân Diệu, nhà thơ của sự cách tân:
Một trong những đóng góp quan trọng nhất của XD là sự nỗ lực cách tân thơ Việt, sự bền bỉ học hỏi vận dụng cấu trúc câu thơ Tây phương hoàn thiện thơ trữ tình điệu nói cùng nhiều sáng tạo những cách nói mới.
- XD luôn có ý thức vận dụng ngôn ngữ thơ. Ông quan niệm rằng mỗi nhà thơ "phải là nhà kỹ thuật lớn của ngôn ngữ". Ngôn ngữ thơ XD được cá thể hóa mạnh mẽ, mang rõ nét dấu ấn riêng, lối viết khỏe khoắn và luôn cựa quậy trong từng câu chữ, gây ấn tượng mạnh mẽ: "kẻ uống tình yêu dập cả môi", "hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi"...
- Lối dùng từ độc đáo, đặc biệt là các động từ mạnh, từ láy, biện pháp tu từ:
Hãy tuôn âu yếm, lùa mơn trớn
Sóng mắt, lời môi - nhiều thật nhiều!
(Vô biên)
Ta bấu răng vào da thịt ở đời
Ngoàm sự sống để làm êm đói khát
(Thanh niên)
hay
Sắc hạ rung rinh bốn phía hè
Hồn ai hiu hắt lá xanh tre
(Nhớ mông lung)
hay
Những luồng run rẩy rung rinh lá...
(Đây mùa thu tới)
- Cách diễn đạt táo bạo, mạnh mẽ, lối vắt dòng, nhịp điệu thơ, hình dáng câu thơ mang đậm dấu ấn cá nhân:
Một tối bầu trời đắm sắc mây,
Cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy,
Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ
Nghiêng xuống làn rêu, một tối đầy
(Với bàn tay ấy)
hay
Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
Tương tư nâng lòng lên chơi vơi...
(Nhị hồ)
b)Thơ XD tràn đầy cảm xúc và thức nhọn giác quan:
- XD tuyên ngôn về thơ:
Sống toàn tâm, toàn trí, sống toàn hồn,
Sống toàn thân và thức nhọn giác quan
(Thanh niên)
- Một thế giới nghệ thuật riêng tràn đầy cảm xúc, cảm giác, nhất là trong tình yêu:
Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh
Lung linh ánh sáng, bỗng rùng mình
(Nguyệt cầm)
hay
Hôm nay trời nhẹ lên cao
Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
[...]
Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều
Lòng không sao cả hiu hiu khẽ buồn
(Chiều)
- Dùng nhiều từ biểu hiện cảm giác: run, rờn, rờn rợn, nức...
Tôi run như lá, tái như đông
(Hư vô)
Những luồn run rẩy rung rinh lá
(Đây mùa thu tới)
c) Sáng tạo ngôn từ - thức nhọn mọi giác quan:
Hơn một loài hoa đã rụng cành
Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh
(Đây mùa thu tới)
Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
(Vội vàng)
=> XD luôn lấy con người giữa tuổi trẻ, tình yêu làm chuẩn mực cho cái đẹp của cuộc đời. Quan điểm mĩ học của XD đậm chất nhân văn.
Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu
Tố Hữu được coi là con chim đầu đàn vạch hướng cho cả nền thi ca Việt Nam hiện đại. Có những giai đoạn, thơ ông đã trở thành chỗ dựa tâm hồn cho mọi người. Bài thơ "Từ ấy", "Việt Bắc" in trong SGK NV 12 là hai bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ ông. Blog Làm văn nghị luận giới thiệu đến bạn đọc bài viết về phong cách nghệ thuật thơ của TH.
1. Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị:
Có thể nói, đây là đặc điểm bao trùm, chi phối các đặc điểm khác trong phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, bởi ông là một chiến sĩ - thi sĩ. Thơ là một sự thống nhất giữa tuyên truyền cách mạng và cảm xúc trữ tình.
- Thơ ông chủ yếu khai thác cảm hứng từ đời sống chính trị của đất nước, từ tình cảm chính trị của bản thân tác giả.
Mọi sự kiện, vấn đề của đời sống cách mạng thông qua trái tim nhạy cảm của ông đều có thể trở thành đề tài, cảm hứng nghệ thuật thật sự. Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản. Ông là thơ trước hết là để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Trong thơ TH, dù đề tài, nội dung, cảm hứng có đa dạng đến đâu thì vẫn nhất quán ở chỗ: lấy lý tưởng cách mạng, quan điểm chính trị là hệ quy chiếu. TH nhiệt tình ca ngợi lý tưởng CM, đối với nhà thơ, lý tưởng là "mặt trời chân lý chói qua tim".
- Hồn thơ TH luôn hướng tới cái "ta" chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn. Ngay từ đầu, cái tôi trữ tình trong thơ TH là cái tôi chiến sĩ, sau là cái tôi nhân danh Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc.
+ Lẽ sống lớn của TH là chiến đấu, hi sinh vì CM, vì một ngày mai tươi sáng.
Ngày mai bao lớp đời dơ
Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay
(Tiếng hát sông Hương)
+ Tình cảm lớn là tình cảm đối với quê hương, đất nước, nhân dân, với lãnh tụ, ca ngợi đạo lý "uống nước nhớ nguồn".
Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người yêu người, sống để yêu nhau
+ Niềm vui trong thơ ông không nhỏ bé, tầm thường mà là niềm vui lớn, sôi nổi hân hoan, rực rỡ và tươi sáng nhất là những vần thơ viết về chiến thắng.
Tôi lại nhìn như đôi mắt trẻ thơ
Tổ quốc tôi chưa đẹp thế bao giờ
Xanh núi, xanh sông, xanh đồng, xanh bể
Xanh trời xanh của những ước mơ
(Vui thế hôm nay... )
2. Thơ Tố Hữu thiên về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn:
- TH coi những sự kiện lớn của đất nước là đối tượng chủ yếu. Ông luôn đề cập đến những vấn đề lịch sử có tính chất toàn dân.
- Cảm hứng chủ đạo: cảm hứng lịch sử - dân tộc cứ không phải cảm hứng thế sự đời tư.
- Nhân vật trữ tình trong thơ ông luôn đại diện cho phẩm chất của giai cấp, của dân tộc; mang vẻ đẹp lí tưởng cách mạng. Đến cuộc kháng chiến chống Mĩ cữu nước, họ đã được nâng lên thành những hình tượng anh hùng, mang tầm vóc thời đại và lịch sử, nhiều khi được thể hiện bằng bút pháp thần thoại hóa:
+ Đó là những chiến sĩ giải phóng quân kiên cường, bất khuất:
Hoan hô anh giải phóng quân
Kính chào anh, con người đẹp nhất
Lịch sử hôn anh chàng trai chân đất
Sống hiên ngang, bất khuất ở trên đời
Như Thạch Sang của thế kỉ hai mươi
Một cây ná, một cây chông cũng tấn công giặc Mĩ
(Bài ca xuân 68)
hay
Các anh chị bước lên đài gươm máy
Đầu sắp rơi mà môi vẫn cười tươi!
Chỉ còn đây một giây sống nữa thôi
Mà mắt đó vẫn trông đời bình thản
Giữa lúc giặc hằm hằm tay lắp đạn
Anh hùng lên tấm ván vẫn hiên ngang
Vẫn oai nghi, như bao thuở, đường hoàng”
(Quyết hi sinh)
+ Đó là mẹ Tơm - người mẹ nghèo đã nuôi giấu, che chở cán bộ:
Thương người chiến sĩ căm Tây Nhật
Buồng mẹ, buồng tim giấu chúng con
+ Đó là mẹ Suốt, người mẹ Q.Bình bất chấp hiểm nguy chèo thuyền đưa bộ đội qua sông giữa làn mưa bom bão đạn kẻ thù.
+ Đó là chị Trần Thị Lý - người con gái miền Nam anh hùng:
Ôi trái tim em, trái tim vĩ đại
Còn một giọt máu tươi, còn đập mãi
Không phải cho em, cho lẽ phải trên đời
Cho quê hương, cho Tổ quốc loài người
- Khuynh hướng sử thi kết hợp với cảm hứng lãng mạn cách mạng. Thơ ông luôn hướng tới ngày mai, tương lai, khơi dậy niềm vui, lòng tin tưởng và say mê đối với cond đường CM:
Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
Đèn pha bật sáng như ngày mai lên
(Việt Bắc)
Đến cuộc kháng chiến chống Mĩ:
Hỡi Miền Bắc đó, nặng đôi vai Gánh cả non sông, vượt dặm dài Xẻ dọc Trường Sơn, đi cứu nước Mà lòng phơi phới dậy tương lai!
(Theo chân Bác)
3.Thơ Tố Hữu có giọng điệu riêng: tâm tình, ngọt ngào, tha thiết:
- Giọng điệu đó được thừa hưởng từ điệu hồn con người xứ Huế, những câu ca, giọng hò mái nhì, mái đẩy, nam ai nam bình... Đó còn xuất phát từ quan niệm của nhà thơ:
Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình.
- Biểu hiện:
+ Thể hiện rõ nhất ở cách xưng hô gần gũi, thân mật. Dù trò chuyện tâm tình hay tuyên truyền CM vẫn một giọng điệu ngọt ngào, thiết tha:
Gặp nhau lưng đèo Nhe
Bóng tre trùm mát rượi
Anh vệ quốc quân ơi!
Sao mà yêu anh thế
(Cá nước)
hay
Ta về mình có nhớ ta
Ta về ta nhớ những hoa cùng người
(Việt Bắc)
Khi kêu gọi chiến đấu vẫn giữ nguyên giọng điệu ấy:
Anh chị em ơi!
Hãy giương súng lên cao chào xuân 68
Xuân Việt Nam, xuân của lòng dũng cảm
(Bài ca xuân 68)
+ Đó còn là sự cảm hòa giữa người và cảnh: đồng cảm, sẻ chia với thi nhân xưa:
Nỗi niềm xưa nghĩ mà thương
Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng
Nhân tình nhắm mắt chưa xong
Biết ai hậu thế khóc cùng Tố Như
(Kính gửi cụ Nguyễn Du)
+ Đó còn là tình cảm gắn bó, thủy chung với những con người CM:
Thương nhau, chia củ sắn lùi
Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng
(Việt Bắc)
4. Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc:
Kế thừa truyền thống thơ ca dân tộc, đặc biệt là thơ ca dân gian và cổ điển, thơ TH đậm đà tính dân tộc trong cả nội dung và nghệ thuật.
- Nội dung:
Hiện thực đời sống CM, những tình cảm chính trị, đạo lý CM qua cảm nhận của TH đã hòa nhập, gắn bó với truyền thống tinh thần, tư tưởng đạo lý của con người VN.
- Nghệ thuật:
+ Thể thơ: TH sử dụng nhuần nhuyễn các thể thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát... ) và có nhiều sáng tạo phong phú.
+ Ngôn ngữ: gần gũi với lời ăn tiếng nói dân tộc, so sánh ví von, thi liệu thành ngữ, tục ngữ, ca dao...
Nhớ gì như nhớ người yêu
Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
(Việt Bắc)
+ Chiều sâu của tính dân tộc trong thơ TH là ở nhạc điệu:
"Âm nhạc như hồn của dân tốc, theo sát các ý thơ của TH, làm cho hiện đai mà vẫn rất VN". (Chế Lan Viên)
Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
Đường bạch dương sương trắng nắng tràn
(Em ơi... Ba Lan)
Ở đây, TH đã phát huy cao độ tính nhạc nhờ việc sử dụng các từ láy, thanh điệu và vần thơ. Nghệ thuật hướng về tình truyền thống hơn là sự tìm tòi đổi mới. Thành công của thơ TH là minh chứng cho sự kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố CM và dân tộc trong hình thứ đẹp đẽ của thơ ca.
Phong cách nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh
Hồ Chí Minh không phải chỉ có tâm hồn nghệ sĩ chứa chan cảm xúc mà Người còn là một tài năng nghệ thuật, là một nghệ sĩ thực thụ. Là một tác gia lớn có vai trò quan trọng trong nền văn học Việt Nam, phong cách thơ đã làm nên một diện mạo riêng cho thơ Bác.
1. Quan điểm nghệ thuật:
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ tự nhận mình là một nhà thơ hay nhà văn mà chỉ là người bạn của văn chương, người yêu văn nghệ "Ngâm thơ ta vốn không ham". Nhưng trong thực tế, cùng với sự nghiệp cách mạng lớn lao, Bác vẫn làm thơ và để lại nhiều tác phẩm văn chương có giá trị nghệ thuật cao.
Sáng tác của Người hết sức phong phú, đa dạng về phong cách nghệ thuật. Tại sao lại có hiện tượng đó trong sáng tác của Người? Bác rất yêu và coi trọng văn chương nghệ thuật, coi trọng người nghệ sĩ, tâm hồn dễ tràn trào cảm xúc trước cái đẹp. Trên con đường hoạt động cách mạng, Bác nhận ra rằng, văn chương nghệ thuật có sức mạnh như một vũ khí đấu tranh lợi hại, tác dụng giáo dục to lớn. Người nắm lấy nó, màu sắc nó để phục vụ sự nghiệp cách mạng của người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa. Do con đường đến với văn chương như vậy nên Bác coi sáng tác văn chương cũng là một hành vi cách mạng. Hiện tượng có vẻ như nghịch lý trong văn chương nhưng lại rất nhất quán trong quan điểm sáng tác ở Người.
Quan điểm sáng tác đó, trước hết coi hành vi sáng tác phải phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng: Viết cho ai, viết để làm gì, viết như thế nào?
Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp
Mây gió trăng hoa tuyết núi sông
Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
(Cảm tưởng đọc Thiên gia thi)
Như vậy, Hồ Chí Minh không phải chỉ có tâm hồn nghệ sĩ chứa chan cảm xúc mà Người còn là một tài năng nghệ thuật, là một nghệ sĩ thực thụ.
2. Đặc điểm phong cách thơ nghệ thuật:
a) Đặc điểm nổi bật trong phong cách thơ của Người là hết sức ngắn gọn, súc tích, trong sáng, hồn nhiên, tự nhiên. Nhưng bình dị mà không đơn điệu.
Bác là người rất giàu tinh thần sáng tạo, không chịu bó mình trong những nghi lễ, những công thức cứng nhắc, vì vậy thơ Bác mang nội dung hết sức sâu sắc, phong phú. Giữa chiến khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến gian khổ, bài "Cảnh khuya" như một bức tranh thủy mặc trong sáng, thanh cao bộc lộ tâm trạng đau đáu của một vị lãnh tụ suốt đời vì nước, vì dân:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.
b) Thơ ca thể hiện sâu sắc và tinh tế vẻ đẹp tâm hồn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thơ của Người có thể chia làm hai loại: thơ tuyên truyền và thơ nghệ thuật. Những bài thơ nghệ thuật viết theo cảm hứng thẩm mỹ hầu hết là thơ tứ tuyệt cổ điển, bằng chữ Hán, mang đặc điểm của thơ cổ phương Đông "ý tại ngôn ngoại" với sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển với bút pháp hiện đại.
- Màu sắc cổ điển được thể hiện ở nhiều phương diện nghệ thuật:
+ Thể thơ, hình ảnh, tứ thơ.
+ Bút pháp chấm phá, tả cảnh ngụ tình.
+ Nhân vật trữ tình gắn bó, chan hòa với thiên nhiên, phong thái an nhiên tự tại.
- Bút pháp hiện đại:
+ Nhân vật trữ tình trong thơ Bác không phải là ẩn sĩ mà là một chiến sĩ chủ động trong mọi hoàn cảnh, vượt qua mọi khó khăn với tinh thần lạc quan cách mạng và phong thái hiên ngang tiến công trước quân thù. Tinh thần chiến sĩ ẩn trong hình tượng thi sĩ.
+ Mạch thơ, hình ảnh thơ luôn vận động, hướng về cách mạng, sự sống, ánh sáng, niềm vui.
Thơ nghệ thuật là tiếng nói sâu sắc và tinh tế nhất của tâm hồn Bác: vừa hồn nhiên, vừa thâm trầm, sâu sắc, vừa trẻ trung, hiện đại, vừa đậm phong vị cổ điển tràn đầy chất thép, chan chứa chất tình dạt dào cảm xúc trước thiên nhiên, tạo vật, con người, thấm đẫm chất nhân đạo.
Vần thơ của Bác vần thơ Thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát Tình
(Hoàng Trung Thông)
Nhắn nhủ: Xin chào các bạn, đây là trang web mới chia sẻ về hành trình chinh phục một ngoại ngữ mới của mình - tiếng Trung. Hy vọng sẽ được các bạn đón nhận. Trang blog tại đây:
提醒:
大家好,这是我的新网站,分享我学习一门新外语——中文的历程。希望能得到大家的支持和喜爱。博客地址在这里:
大家好,这是我的新网站,分享我学习一门新外语——中文的历程。希望能得到大家的支持和喜爱。博客地址在这里:
Suy tưởng về cái đẹp là nét nổi bật trong sáng tác của Nguyễn Tuân
"Chữ người tử tù" (SGK NV12) là tác phẩm tiêu biểu cho phong cách Nguyễn Tuân trước Cách mạng tháng Tám. Đó là suy tưởng về cái đẹp - của người nghệ sĩ "nhất sinh đê thủ bái mai hoa". Blog Làm văn nghị luận giới thiệu đến bạn đọc bài viết sau.
Tóm tắt đặc điểm phong cách Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng tháng Tám
Nguyễn Tuân (SGK NV12) là một tác gia lớn của nền văn học Việt Nam với phong cách nghệ thuật độc đáo và sâu sắc. Đặc điểm phong cách Nguyễn Tuân trước và sau Cách mạng là một chuyển biến lớn trong cuộc đời của người nghệ sĩ yêu cái đẹp này. Blog Làm văn nghị luận gửi đến bạn đọc tóm tắt về phong cách Nguyễn Tuân qua bài viết sau.
1. Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân:
Nguyễn Tuân có một phong cách nghệ thuật độc đáo và sâu sắc.
(1) Phong cách ấy, trước hết có thể thâu tóm trong một chữ "ngông". Ngông là phản ứng tiêu cực nhưng kiêu ngạo đối với xã hội. Người chơi ngông muốn dựa vào tài hoa, sự lịch lãm và nhân cách hơn đời để đặt mình lên trên thiên hạ. Thái độ ngông của Nguyễn Tuân có màu sắc riêng: vừa kế thừa truyền thống "ngông" của các nhà nho tài hoa bất đắc chí như Nguyễn Công Trứ, Tú Xương, Tản Đà..., vừa tiếp nhận ảnh hưởng tư tưởng cá nhân chủ nghĩa của văn hóa phương Tây hiện đại. Thể hiện phong cách này, mỗi trang viết của Nguyễn Tuân đề muốn chứng tỏ sự độc đáo, tài hoa và uyên bác. Chất tài hoa và uyên bác trong văn Nguyễn Tuân thể hiện ở những điểm:
- Khám phá, phát hiện sự vật ở phương diện văn hóa, thẩm mĩ: "Con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình" (Người lái đò Sông Đà).
- Nhìn con người ở phương diện tài hoa, nghệ sĩ: nhân vật Huấn Cao có tài viết chữ đẹp và nhân cách cao quý (Chữ người tử tù).
- Vận dụng tri thức của nhiều ngành văn hóa, nghệ thuật khác nhau về đối tượng sáng tác để tạo hình tượng. Con sông Đà hung bạo và những trận thủy chiến của ông lái đò được ghi lại bằng kiến thức của văn chương, hội họa, điện ảnh, địa lí, lịch sử, quân sự, võ thuật (Người lái đò Sông Đà).
(2) Nguyễn Tuân học theo "chủ nghĩa xê dịch" chẳng qua là luôn thèm khát những cảm giác mới lạ. Đấy là "một nguồn sống bồng bột tắc lối thoát" (Tóc chị Hoài). Ông không thích cái gì bằng phẳng, nhợt nhạt, khuôn phép yên ổn. Ông là nhà văn của những tính cách độc đáo, của những tình cảm, cảm giác mãnh liệt, của những phong cảnh tuyệt mĩ, của gió, bão, núi cao, rừng thiêng, của thác ghềnh dữ dội...
(3) Sử dụng thể văn tùy bút hết sức phóng túng với nhân vật chính là cái tôi chủ quan của tác giả, có đóng góp không nhỏ cho ngôn ngữ văn học.
- Kho từ vựng của ông rất phong phú: nhìn ven bờ Sông Đà, thấy nó hoang dại như một bờ tiền sử (Người lái đò Sông Đà).
- Tổ chức câu văn xuôi đầy giá trị tạo hình, có nhạc điệu trầm bổng, cách phối âm, phối thanh linh hoạt tài hoa: Nước con sông thời thế Vị Hoàng bất chấp mọi sự ráo kiệt cạn lấp, đến ngày nay vẫn còn chảy tới thế hệ chúng ta hợp lưu với lòng chúng ta, chính là do cái nguồn mạch trữ tình của hai câu sau đẩy nó đi xa lắm, và mạch nước ngầm ấy còn chảy xa lắm. (Thời thơ Tú Xương).
2. Sự chuyển biến về phong cách nghệ thuật trước và sau Cách mạng tháng Tám:
- Trước Cách mạng:
+ Quan niệm về cái đẹp chỉ có trong quá khứ gọi là "vang bóng một thời" và tài hoa nghệ sĩ chỉ có ở những con người xuất chúng, thuộc thời trước còn vương sót lại (Nguyễn Tuân gọi là "sinh lầm thế kỉ", bơ vơ lạc lỏng trong thời hiện đại).
+ Tìm cảm giác mạnh ở quá khứ "vang bóng một thời", ở chủ nghĩa xê dịch, ở đời sống trụy lạc.
+ Sử dụng thể văn tùy bút, thiên về diễn tả nội tâm của cái tôi chủ quan.
- Sau Cách mạng:
+ Không đối lập quá khứ với hiện tại. Cái đẹp có cả ở quá khứ, hiện tại và tương lại và tài hoa có ở cá nhân đại chúng.
+ Tìm những hiện tượng gây cảm giác mạnh ở những phong cảnh đẹp, hùng vĩ của thiên nhiên đất nước và những thành tích của nhân dân trong chiến đấu và xây dựng.
+ Vẫn dùng thể văn tùy bút nhưng có pha chút kí với bút pháp hướng ngoại, để phản ánh hiện thực, ghi chép thành tích chiến đấu, xây dựng của nhân dân.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Popular Posts
Ai đó đã nói rằng...
Suy cho cùng, không mài sự lãng mạn ra ăn được nên người ta dần sống như thế. Và quên mất cách cảm động khi đọc một trích đoạn hay, quên mất khi đọc một bài thơ tình cổ điển, quên cả cách ngồi cạnh nhau mà không phải nói gì.
- Minh Nhật -


















