Hiển thị các bài đăng có nhãn nghi luan van hoc. Hiển thị tất cả bài đăng

Những nét chính của phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên qua Tiếng hát con tàu

Blog Làm văn nghị luận hôm nay muốn nhắc tới một nhà thơ lớn với những trang thơ đậm chất cá nhân trong SGK Ngữ văn 12 - Chế Lan Viên. Là một nhà thơ lớn, thơ CLV đã đi qua và chiếm lĩnh cả ba đỉnh cao ở ba thời kỳ tiêu biểu nhất của thơ ca Việt Nam thế kỉ XX: thời kỳ Thơ mới lãng mạn, Thơ ca Kháng chiến và thời kỳ Đổi mới sau 1986. Ông được đánh giá là một nhà thơ có phong cách đặc sắc và nổi bật.

Những nét chính của phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên qua "Tiếng hát con tàu" - Blog Làm văn nghị luận

Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân trong Đất Nước (trích Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm)

Nét đặc sắc trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm ở đoạn trích "Đất Nước" (phần đầu chương V của trường ca) là những vẻ đẹp của đất nước được phát hiện ở chiều sâu, trên nhiều bình diện, tất cả được soi chiếu bởi tư tưởng chủ đạo: "Đất Nước của Nhân dân".

So sánh hình ảnh bát cháo hành trong tác phẩm Chí Phèo với bát cháo cám trong tác phẩm Vợ nhặt

Đến với mỗi tác phẩm văn học, ta tìm thấy ở đó những hình tượng, chi tiết nghệ thuật khác nhau mang giá trị tư tưởng, tình cảm của tác giả, cũng như dụng ý nghệ thuật mà nhà văn muốn gửi gắm đến bạn đọc. Qua tác phẩm "Chí Phèo" của nhà văn Nam Cao, hình ảnh bát cháo hành trở thành mấu chốt thức tỉnh một con người. Không chỉ thế, khi trải lòng với "Vợ nhặt" của nhà văn Kim Lân, hẳn là trong lòng độc giả không thôi day dứt với hình ảnh bát cáo cám đầy ám ảnh.

Cách nhìn hiện thực độc đáo của Kim Lân trong tác phẩm "Vợ nhặt"

"Vợ nhặt" nằm trong mảng đề tài viết về hiện thực cuộc sống của người dân trước Cách mạng tháng Tám. Nhiều nhà văn, nhà thơ sau Cách mạng như Nguyễn Công Hoan, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi,... đã say sưa với đề tài này. Thế nhưng khi vào truyện của Kim Lân, nó thật ám ảnh. Đây là một đề tài mà Kim Lân đã từng ấp ủ nó trong một bản thảo tiểu thuyết viết ngay sau khi CMT8 thành công.

Phân tích đoạn thơ trong bài "Việt Bắc" của nhà thơ Tố Hữu

Điều còn lại của mỗi nhà văn chính là cái giọng nói riêng của chính mình. Tố Hữu đã làm nên cho mình một thế riêng, một chân dung tinh thần riêng. Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc, mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, trữ tình với giọng điệu thiết tha, ngọt ngào... Tất cả những yếu tố ấy đã làm nên một phong cách thơ rất Tố Hữu, không lẫn vào bất kỳ một cây bút khác được.


"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc" của nhà thơ Quang Dũng

Bằng một nét rất riêng, đậm dấu ấn sáng tạo và đầy cá tính, Quang Dũng đã dựng nên bức tượng đài người lính - anh "vệ trọc", "đoàn binh không mọc tóc" đầy ấn tượng mới mẻ và sâu sắc trong lòng bao độc giả qua bài thơ "Tây Tiến".


Đề bài: Phân tích đoạn thơ sau trong bài "Tây Tiến" của Quang Dũng:

Phân tích vẻ đẹp hình tượng của nhân vật Huấn Cao trong truyện Chữ người tử tù

Vẻ đẹp hình tượng của nhân vật Huấn Cao trong "Chữ người tử tù" của Nguyễn Tuân là vẻ đẹp nói lên cái tài, cái tâm của nhà văn, biểu lộ quan điểm nghệ thuật riêng đầy cá tính sáng tạo.


I. Giới thiệu:

- "Chữ người tử tù" là truyện ngắn rút từ tập "Vang bóng một thời" viết trước CM (1940).
- Đây là truyện ngắn có nội dung tư tưởng sâu sắc và có nhiều thành công về phương diện nghệ thuật, tập trung ở hình tượng nhân vật Huấn Cao.

II. Vẻ đẹp của HC:

1. Trước hết là vẻ đẹp của con người tài hoa, nghệ sĩ:

- HC có tài viết chữ Hán, loại văn tự giàu tính tạo hình - bộc lộ cái tâm, cái chí, gọi là viết thư pháp. Có người viết chữ thì có người chơi chữ - treo chữ trong nhà, thú vui tao nhã của những người có trình độ văn hóa thẩm mĩ cao.
- HC là một nghệ sĩ thư pháp. "Tài viết chữ rất nhanh và đẹp" nổi tiếng khắp cả vùng tỉnh Sơn. Viên quản ngục - một quan huyện nhỏ vô danh cũng biết danh "Chữ ông HC đẹp lắm, vuông lắm (...). Có được chữ ông HC mà treo là một báu vật trên đời". Cho nên để có được chữ HC,VQN đã "biệt đãi", nhẫn nhục và liều mạng.

2. HC mang vẻ đẹp khí phách bất khuất, hiên ngang.

- HC dám chống lại cả triều đình.
- Dù chí lớn không thành nhưng ông vẫn cứ hiên ngang, bất khuất (thái độ đối với VQN).
- Phong thái ung dung, đĩnh đạc, đường hoàng dù sắp bị xử tử.

3. HC có thiên lương trong sáng, cao đẹp:

- Khái niệm "thiên lương" được Nguyễn Tuân sử dụng với nhiều ý nghĩa khác nhau: trân trọng, yêu quý cái tài, cái đẹp và ý thức sử dụng cái tài của mình.
- HC không bao giờ ép mình cho chữ dù vàng ngọc hay quyền quý, do "cảm cái tấm lòng biệt nhỡn liên tài" của VQN và thơ lại nên đã chấp nhận cho chữ.

4. Sự thống nhất giữa cái tài và cái tâm cùng với khí phách anh hùng của hình tượng HC:

- Cảnh cho chữ, vẻ đẹp của cái tâm, của "thiên lương" chiếu rọi, làm cho vẻ đẹp của cái tài, của khí phách anh hùng bừng sáng, tạo nên nhân cách chói lọi của HC - là lí tưởng thẩm mĩ của NT, chuẩn mực đánh giá nhân cách con người. Trên cái nền đen tối của nhà tù, quản nguc và thơ lại là hai điểm sáng, bên cạnh cái vầng sáng rực rỡ HC - tạo thành cuộc đổi ngôi kì diệu. Hình tượng HC vì thế mà trở thành biểu tượng cho sự chiến thắng cảu ánh sáng đối với bóng tối, của cái đẹp, cái cao cả đối với cái phàm tục, dơ bẩn, của khí phách ngang tàng đối với thói quen nô lệ.

5. Nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật HC:

- Tình huống truyện độc đáo: cuộc gặp gỡ giữa HC và VQN, thơ lại - cuộc hội ngộ giữa những kẻ "liên tài tri kỉ".
- NT triệt để sử dụng sức mạnh của "nguyên tắc tương phản đối lập của bút pháp lãng mạn": đối lập giữa ánh sáng và bóng tối, giữa cái đẹp, cái cao cả với sự phàm tục, dơ bẩn....
- Ngôn ngữ miêu tả nhân vật giàu tính chất tạo hình, sử dụng nhiều từ Hán - Việt, lời ăn tiếng nói mang tính khẩu khí làm tăng vẻ đẹp "Vang bóng một thời".

III. Kết luận:

- Nhân vật HC thể hiện cái tài, cái tâm của NT, là biểu tượng cho sự chiến thắng của cái tài, cái tâm trước sự phàm tục, dơ bẩn.
- Nguyên mẫu Cao Bá Quát, một nhà nho có tài văn thơ, viết chữ đẹp nổi tiếng một thời và cũng là người từng tham gia lãnh đạo khởi nghĩa. Qua đó bộc lộ tình yêu nước thầm kín.

Một số đề ôn thi đại học - cao đẳng

Blog Làm văn nghị luận gửi đến bạn đọc một số dạng đề tham khảo xoay quanh các tác giả, tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 11, 12.


A. PHẦN VĂN XUÔI


I. CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ - Nguyễn Tuân.


Đề 1: Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của viên quan coi ngục trong “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân) và vẻ đẹp tâm hồn nhân vật Đan Thiềm trong “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” (Nguyễn Huy Tưởng)
Đề 2: Cảm nhận cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” và cảnh vượt thác trong “Người lái đò Sông Đà”.

II. HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA (trích Số đỏ) - Vũ Trọng Phụng.

Đề 1: Phân tích nghệ thuật trào phúng đặc sắc của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”. Hoặc phân tích niềm vui sướng của đám con cháu trong chương “HP của một tang gia”.

III. VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI (trích Vũ Như Tô) - Nguyễn Huy Tưởng.

Đề 1: Cảm nhận bi kịch Vũ Như Tô trong đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”.

IV. AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG ? (trích) - Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Đề 1: Cảm nhận vẻ đẹp của sông Hương đoạn từ thượng nguồn đến chảy qua thành phố Huế.

V. NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH (trích) - Nguyễn Thi.

Đề 1: Phân tích màn đối thoại của Việt và Chiến trong đêm trước ngày đi tòng quân.
Đề 2: Phân tích vẻ đẹp tuổi trẻ miền Nam thời chống Mỹ qua hai nhân vật Việt và Chiến.

VI. HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT (trích) - Lưu Quang Vũ.

Đề 1: Phân tích ý nghĩa triết lý của màn đối thoại Hồn – Xác.
Đề 2: Phân tích màn đối thoại giữa Trương Ba và Đế Thích.
Đề 3: Phân tích tấn bi kịch Trương Ba trong đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”

VII. MỘT NGƯỜI HÀ NỘI – Nguyễn Khải.

Đề 1: Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn nhân vật bà Hiền – “hạt bụi vàng” của Hà Nội.

VIII. ĐỜI THỪA – Nam Cao.

Đề 1: Phân tích tấn bi kịch tinh thần của nhà văn Hộ. (So sánh bi kịch Vũ Như Tô)
Đề 2: Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm “Đời thừa”.

IX. CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA – Nguyễn Minh Châu.

Đề 1: Phân tích nhân vật Phùng.
Đề 2: Phân tích truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” để làm rõ mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống.
Đề 3: Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.

X. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

Đề 1: Phân tích nghệ thuật lập luận sắc bén và giàu tính luận chiến trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh.

PHẦN THƠ:

I. VỘI VÀNG (Xuân Diệu) – Rất quan trọng.

Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về quan niệm thời gian qua đoạn thơ sau trong bài thơ "Vội vàng" của Xuân Diệu:
“Xuân đang tới nghĩa là xuân đương qua
….
Nhanh lên thôi mùa chưa ngả chiều hôm”
Đề 2: Cảm nhận của anh chị về cái tôi trữ tình qua đoạn thơ sau trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu:
“Ta muốn ôm
Hỡi Xuân Hồng ta muốn cắn vào ngươi”

II. SÓNG - Xuân Quỳnh. (Quan trọng , học hết nhé)

Đề 1: Cảm nhận đoạn thơ "Dữ dội và dịu êm...khi nào ta yêu nhau".
Đề 2: Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ đang yêu qua đoạn thơ "Trước muôn trùng sóng bể...Hướng về anh một phương"
Đề 3: Cảm nhận đoạn thơ "Con sóng dưới lòng sâu... Hướng về anh một phương"
Đề 4:
"Con sóng dưới lòng sâu... Để ngàn năm còn vỗ"
Đề 5: So sánh :
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
(Vội vàng - Xuân Diệu)
Và đoạn:
"Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ"
(Sóng - Xuân Quỳnh)

III. CHIỀU TỐI ( Hồ Chí Minh)

Đề 1: Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ “Chiều tối” – Hồ Chí Minh.
Đề 2: Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn thi sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh qua bài thơ “Chiều tối”.

IV. TỪ ẤY (Tố Hữu) (Rất quan trọng)

Đề 1: Cảm nhận của anh/ chị về về sự chuyển biến trong nhận thức và tình cảm của người chiến sĩ cách mạng qua bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu.
Đề 2: Cảm nhận của anh chị về hai đoạn thơ sau đây:
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bất cù bơ
(Từ ấy – Tố Hữu)
Và :
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

V. TÂY TIẾN – Quang Dũng. Rất quan trọng.

Đề 1: Phân tích vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng của hình tượng người lính thời chống Pháp qua bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng.
Đề 2: Phân tích vẻ đẹp lãng mạn của thiên nhiên và tâm hồn người lính qua đoạn thơ:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Đề 3: Phân tích hình tượng người lính qua đoạn thơ:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
Đề 4: Cảm nhận bức tranh thiên nhiên và hình tượng người lính bộ đội cụ Hồ qua đoạn thơ sau:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

VI. VIỆT BẮC - Tố Hữu (quan trọng)

Đề 1: Cảm nhận tâm trạng nhân vật trữ tình qua đoạn thơ:
“Mình về mình có nhớ ta
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
Đề 2: Cảm nhận vẻ đẹp của không khí kháng chiến thời kháng Pháp qua đoạn thơ sau:
“Những đường Việt Bắc của ta
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”
Đề 3: Bức tranh tứ bình Việt Bắc.
Đề 4: Cảm nhận đoạn "Mình đi có nhớ những ngày... Tân Trào , Hồng Thái, mái đình, cây đa"

VII. ĐÀN GHITA CỦA LORCA – Thanh Thảo

Đề 1: Cảm nhận hình tượng tiếng đàn qua đoạn thơ sau trong bài “Đàn ghita của Lorca” – Thanh Thảo:
"tiếng ghita nâu
long lanh trong đáy giếng"
Đề 2: Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài thơ “Đàn ghita của Lorca” – Thanh Thảo:
“đường chỉ tay đã đứt
lila – lila – lila”

Chất thơ trong truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

Chất thơ đã trở thành một trong những đặc điểm của phong cách Thạch Lam giúp ông đưa hiện thực vào trang sách một cách chân thành, sâu lắng. Chất thơ trong truyện ngắn "Hai đứa trẻ" (SGK Ngữ Văn 11) đã góp phần mở rộng tâm hồn, đem đến cho người đọc một cái gì nhẹ nhõm thơm lành và mát dịu.


Phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu

Xuân Diệu - nhà thơ mới nhất trong những nhà Thơ mới, nhà thơ của sự sáng tạo, hấp dẫn người đọc bởi phong cách độc đáo được biểu hiện qua các phương diện: cách nhìn hiện thực và cách phản ánh hiện thực. Blog Làm văn nghị luận giới thiệu đến bạn đọc phong cách nghệ thuật thơ Xuân Diệu qua bài viết.


1. Một tâm hồn đặc biệt nhạy cảm trước sự vận động của thời gian.

Rõ ràng không phải đến Xuân Diệu thơ VN mới nói đến thời gian. Nhưng chỉ với XD thời gian mới trở thành một nỗi ám ảnh. "Thời gian trong thơ ông không chỉ là cảm xúc, là thi hứng, mà còn là nhân tố kiến trúc của tác phẩm nghệ thuật. Có thể nói, XD luôn nhìn đời bằng con-mắt-thời-gian; "chất Xuân Diệu", phong cách thơ ông là ở đó."
Ở XD thời gian đã tạo nên một sức ép lớn "Tôi không chờ nắng hạ mới hoài xuân". Ngay khi đang thanh niên thi sĩ đã vẽ ra cái già, cái chết để báo động:
                         Hết ngày, hết tháng, hết!em ơi
                         Kinh hãi không gian quặn tiếng còi
(Hết ngày hết tháng)
Trong thơ XD, tác giả đem đến tuổi trẻ tiếp thêm sinh khí cho sự vật, thời gian cũng đem lại sự phôi pha, héo úa. Nhà thơ đã cảm nhận thời gian trôi đi ngay trong từng khoảnh khắc của hiện tại:
                         Xuân đang tới, nghĩa là xuân đang qua
                         Xuân còn non, nghĩa là xuân sẽ già
(Vội vàng)
Nhạy cảm với bước đi của thời gian, kèm theo đó là sự lo âu:
                         Thời gian rót từng giọt buồn tê héo
                         Sự sống đi như hương bỏ hoa chiều
(Thanh niên)
Những câu thơ tả bước đi của thời gian thường là những câu thơ cực kì tinh vi của XD:
                         Hoa thu không nắng cũng phai màu
                         Trên mặt người kia in nét đau
(Hoa nở để mà tàn)
                         Gió lạnh rồi đây sắp nhớ thương
                         Sương the bảng lảng bạc cây tùng
Và ý thức sự trôi chảy của thời gian nên XD luôn vội vàng, cuống quýt:
                         Mau lên chứ, vội vàng lên với chứ
(Vội vàng)

2. Xuân Diệu - một trái tim luôn hướng tới tuổi trẻ, tình yêu nơi trần thế bằng niềm yêu đời, yêu cuồng nhiệt, sôi nổi:

Bởi "khát khao giao cảm với đời" nên cái "tôi" XD luôn thiết tha yêu sống, cuộc sống hiểu theo nghĩa trần thế nhất. Ông kêu gọi "sống toàn tâm, toàn trí, toàn hồn" lòng ham sống bộc lộ hết mức:
                         Kẻ đựng trái tim trìu máu đất
                         Hay tay chín móng bám vào đời
(Hư vô)
Còn trong địa hạt của tình yêu, ông hoàng thơ tình đã mang đến cho thơ tình yêu một quan niệm đầy đủ nhất và cách thể hiện phong phú, chân thực và tinh hoa nhất. Thơ tình XD luôn dào dạt:
                         Yêu tha thiết thế vẫn còn chưa đủ
                         Phải nói yêu đến trăm bận ngàn lần
(Phải nói)
                         Đã hôn rồi hôn lại
                         Hôn đến mãi muôn đời
                         Đến tan cả đất trời
                         Anh mới thôi dào dạt
(Biển)
Chắc hẳn những người yêu nhau nhiều thế hệ sẽ khó mà quên được câu thơ diễn tả những rung động đầu đời này:
                         Hôm nay trời nhẹ lên cao
                         Tôi buồn, không hiểu vì sao tôi buồn
(Chiều)
Và sẽ luôn ngạc nhiên trước một nỗi khát khao thật táo bạo mà thành thực:
                         Những lúc môi ta kề miệng thắm
                         Trời ơi, ta muốn uống hồn em!
(Vô biên)
Và lòng yêu cuộc sống, ham sống, XD sống trẻ, sống yêu cho đến phút cuối cùng:
                         Xin hãy cho tôi được giã từ... 
                         vẫy chào cõi thực để vào hư. 
                         Trong hơi thở cuối dâng trời đất 
                         cũng vẫn si tình đến ngất ngư...
(Gĩa từ)
XD say tình và say cảnh. Thiên nhiên trong thơ XD tràn trề nhựa sống được khám phá bằng lăng kính ái ân (Vội vàng, Thơ duyên).

3. Xuân Diệu - nhà thơ của sự nỗ lực cách tân thơ Việt và "thức nhọn giác quan"

a) Xuân Diệu, nhà thơ của sự cách tân:

Một trong những đóng góp quan trọng nhất của XD là sự nỗ lực cách tân thơ Việt, sự bền bỉ học hỏi vận dụng cấu trúc câu thơ Tây phương hoàn thiện thơ trữ tình điệu nói cùng nhiều sáng tạo những cách nói mới.
- XD luôn có ý thức vận dụng ngôn ngữ thơ. Ông quan niệm rằng mỗi nhà thơ "phải là nhà kỹ thuật lớn của ngôn ngữ". Ngôn ngữ thơ XD được cá thể hóa mạnh mẽ, mang rõ nét dấu ấn riêng, lối viết khỏe khoắn và luôn cựa quậy trong từng câu chữ, gây ấn tượng mạnh mẽ: "kẻ uống tình yêu dập cả môi", "hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi"...
- Lối dùng từ độc đáo, đặc biệt là các động từ mạnh, từ láy, biện pháp tu từ:
                         Hãy tuôn âu yếm, lùa mơn trớn
                         Sóng mắt, lời môi - nhiều thật nhiều!
(Vô biên)
                         Ta bấu răng vào da thịt ở đời
                         Ngoàm sự sống để làm êm đói khát
(Thanh niên)
hay
                         Sắc hạ rung rinh bốn phía hè
                         Hồn ai hiu hắt lá xanh tre
(Nhớ mông lung)
hay
                         Những luồng run rẩy rung rinh lá...
(Đây mùa thu tới)
- Cách diễn đạt táo bạo, mạnh mẽ, lối vắt dòng, nhịp điệu thơ, hình dáng câu thơ mang đậm dấu ấn cá nhân:
                         Một tối bầu trời đắm sắc mây,
                         Cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy,
                         Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ
                         Nghiêng xuống làn rêu, một tối đầy
(Với bàn tay ấy)
hay
                         Sương nương theo trăng ngừng lưng trời
                         Tương tư nâng lòng lên chơi vơi...
(Nhị hồ)

b)Thơ XD tràn đầy cảm xúc và thức nhọn giác quan:

- XD tuyên ngôn về thơ:
                         Sống toàn tâm, toàn trí, sống toàn hồn,
                         Sống toàn thân và thức nhọn giác quan
(Thanh niên)
- Một thế giới nghệ thuật riêng tràn đầy cảm xúc, cảm giác, nhất là trong tình yêu:
                         Mây vắng, trời trong, đêm thủy tinh
                         Lung linh ánh sáng, bỗng rùng mình
(Nguyệt cầm)
hay
                         Hôm nay trời nhẹ lên cao
                         Tôi buồn không hiểu vì sao tôi buồn
                         [...]
                         Êm êm chiều ngẩn ngơ chiều
                         Lòng không sao cả hiu hiu khẽ buồn
(Chiều)
- Dùng nhiều từ biểu hiện cảm giác: run, rờn, rờn rợn, nức...
                         Tôi run như lá, tái như đông
(Hư vô)
                         Những luồn run rẩy rung rinh lá
(Đây mùa thu tới)

c) Sáng tạo ngôn từ - thức nhọn mọi giác quan:

                         Hơn một loài hoa đã rụng cành
                         Trong vườn sắc đỏ rủa màu xanh
(Đây mùa thu tới)
                         Tháng giêng ngon như một cặp môi gần
(Vội vàng)
=> XD luôn lấy con người giữa tuổi trẻ, tình yêu làm chuẩn mực cho cái đẹp của cuộc đời. Quan điểm mĩ học của XD đậm chất nhân văn.

Phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu

Tố Hữu được coi là con chim đầu đàn vạch hướng cho cả nền thi ca Việt Nam hiện đại. Có những giai đoạn, thơ ông đã trở thành chỗ dựa tâm hồn cho mọi người. Bài thơ "Từ ấy", "Việt Bắc" in trong SGK NV 12 là hai bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ ông. Blog Làm văn nghị luận giới thiệu đến bạn đọc bài viết về phong cách nghệ thuật thơ của TH.


1. Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị:

Có thể nói, đây là đặc điểm bao trùm, chi phối các đặc điểm khác trong phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, bởi ông là một chiến sĩ - thi sĩ. Thơ là một sự thống nhất giữa tuyên truyền cách mạng và cảm xúc trữ tình.

- Thơ ông chủ yếu khai thác cảm hứng từ đời sống chính trị của đất nước, từ tình cảm chính trị của bản thân tác giả.

Mọi sự kiện, vấn đề của đời sống cách mạng thông qua trái tim nhạy cảm của ông đều có thể trở thành đề tài, cảm hứng nghệ thuật thật sự. Tố Hữu là nhà thơ của lý tưởng cộng sản. Ông là thơ trước hết là để phục vụ cho sự nghiệp cách mạng. Trong thơ TH, dù đề tài, nội dung, cảm hứng có đa dạng đến đâu thì vẫn nhất quán ở chỗ: lấy lý tưởng cách mạng, quan điểm chính trị là hệ quy chiếu. TH nhiệt tình ca ngợi lý tưởng CM, đối với nhà thơ, lý tưởng là "mặt trời chân lý chói qua tim".

- Hồn thơ TH luôn hướng tới cái "ta" chung với lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn. Ngay từ đầu, cái tôi trữ tình trong thơ TH là cái tôi chiến sĩ, sau là cái tôi nhân danh Đảng, nhân danh cộng đồng dân tộc.

+ Lẽ sống lớn của TH là chiến đấu, hi sinh vì CM, vì một ngày mai tươi sáng.
Ngày mai bao lớp đời dơ
Sẽ tan như đám mây mờ đêm nay
(Tiếng hát sông Hương)
+ Tình cảm lớn là tình cảm đối với quê hương, đất nước, nhân dân, với lãnh tụ, ca ngợi đạo lý "uống nước nhớ nguồn".
Có gì đẹp trên đời hơn thế
Người yêu người, sống để yêu nhau
+ Niềm vui trong thơ ông không nhỏ bé, tầm thường mà là niềm vui lớn, sôi nổi hân hoan, rực rỡ và tươi sáng nhất là những vần thơ viết về chiến thắng.
Tôi lại nhìn như đôi mắt trẻ thơ
Tổ quốc tôi chưa đẹp thế bao giờ
            Xanh núi, xanh sông, xanh đồng, xanh bể
Xanh trời xanh của những ước mơ
(Vui thế hôm nay... )


2. Thơ Tố Hữu thiên về khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn:

- TH coi những sự kiện lớn của đất nước là đối tượng chủ yếu. Ông luôn đề cập đến những vấn đề lịch sử có tính chất toàn dân.

- Cảm hứng chủ đạo: cảm hứng lịch sử - dân tộc cứ không phải cảm hứng thế sự đời tư.

- Nhân vật trữ tình trong thơ ông luôn đại diện cho phẩm chất của giai cấp, của dân tộc; mang vẻ đẹp lí tưởng cách mạng. Đến cuộc kháng chiến chống Mĩ cữu nước, họ đã được nâng lên thành những hình tượng anh hùng, mang tầm vóc thời đại và lịch sử, nhiều khi được thể hiện bằng bút pháp thần thoại hóa:

+ Đó là những chiến sĩ giải phóng quân kiên cường, bất khuất:
                    Hoan hô anh giải phóng quân
                    Kính chào anh, con người đẹp nhất
                    Lịch sử hôn anh chàng trai chân đất
                    Sống hiên ngang, bất khuất ở trên đời
                    Như Thạch Sang của thế kỉ hai mươi
                    Một cây ná, một cây chông cũng tấn công giặc Mĩ
(Bài ca xuân 68)
hay

                    Các anh chị bước lên đài gươm máy
                    Đầu sắp rơi mà môi vẫn cười tươi!
                    Chỉ còn đây một giây sống nữa thôi
                    Mà mắt đó vẫn trông đời bình thản
                    Giữa lúc giặc hằm hằm tay lắp đạn
                    Anh hùng lên tấm ván vẫn hiên ngang
                    Vẫn oai nghi, như bao thuở, đường hoàng”
(Quyết hi sinh)

+ Đó là mẹ Tơm - người mẹ nghèo đã nuôi giấu, che chở cán bộ:
                    Thương người chiến sĩ căm Tây Nhật
                    Buồng mẹ, buồng tim giấu chúng con
+ Đó là mẹ Suốt, người mẹ Q.Bình bất chấp hiểm nguy chèo thuyền đưa bộ đội qua sông giữa làn mưa bom bão đạn kẻ thù.
+ Đó là chị Trần Thị Lý -  người con gái miền Nam anh hùng:
                    Ôi trái tim em, trái tim vĩ đại
                    Còn một giọt máu tươi, còn đập mãi
                    Không phải cho em, cho lẽ phải trên đời
                    Cho quê hương, cho Tổ quốc loài người
- Khuynh hướng sử thi kết hợp với cảm hứng lãng mạn cách mạng. Thơ ông luôn hướng tới ngày mai, tương lai, khơi dậy niềm vui, lòng tin tưởng và say mê đối với cond đường CM:
                    Nghìn đêm thăm thẳm sương dày
                    Đèn pha bật sáng như ngày mai lên
(Việt Bắc)
Đến cuộc kháng chiến chống Mĩ:
                    Hỡi Miền Bắc đó, nặng đôi vai                     Gánh cả non sông, vượt dặm dài                     Xẻ dọc Trường Sơn, đi cứu nước                     Mà lòng phơi phới dậy tương lai!
(Theo chân Bác)


3.Thơ Tố Hữu có giọng điệu riêng: tâm tình, ngọt ngào, tha thiết:

- Giọng điệu đó được thừa hưởng từ điệu hồn con người xứ Huế, những câu ca, giọng hò mái nhì, mái đẩy, nam ai nam bình... Đó còn xuất phát từ quan niệm của nhà thơ:

Thơ là tiếng nói đồng ý, đồng chí, đồng tình.

- Biểu hiện:

+ Thể hiện rõ nhất ở cách xưng hô gần gũi, thân mật. Dù trò chuyện tâm tình hay tuyên truyền CM vẫn một giọng điệu ngọt ngào, thiết tha:
                    Gặp nhau lưng đèo Nhe
                    Bóng tre trùm mát rượi
                    Anh vệ quốc quân ơi!
                    Sao mà yêu anh thế
(Cá nước)
hay
                            Ta về mình có nhớ ta
                    Ta về ta nhớ những hoa cùng người
(Việt Bắc)
Khi kêu gọi chiến đấu vẫn giữ nguyên giọng điệu ấy:
                    Anh chị em ơi!
                    Hãy giương súng lên cao chào xuân 68
                    Xuân Việt Nam, xuân của lòng dũng cảm
(Bài ca xuân 68)
+ Đó còn là sự cảm hòa giữa người và cảnh: đồng cảm, sẻ chia với thi nhân xưa:
                    Nỗi niềm xưa nghĩ mà thương
                    Dẫu lìa ngó ý còn vương tơ lòng
                    Nhân tình nhắm mắt chưa xong
                    Biết ai hậu thế khóc cùng Tố Như
(Kính gửi cụ Nguyễn Du)
+ Đó còn là tình cảm gắn bó, thủy chung với những con người CM:

                    Thương nhau, chia củ sắn lùi 
                    Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

(Việt Bắc)


4. Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc:

Kế thừa truyền thống thơ ca dân tộc, đặc biệt là thơ ca dân gian và cổ điển, thơ TH đậm đà tính dân tộc trong cả nội dung và nghệ thuật.

- Nội dung:

Hiện thực đời sống CM, những tình cảm chính trị, đạo lý CM qua cảm nhận của TH đã hòa nhập, gắn bó với truyền thống tinh thần, tư tưởng đạo lý của con người VN.

- Nghệ thuật:

+ Thể thơ: TH sử dụng nhuần nhuyễn các thể thơ dân tộc (lục bát, song thất lục bát... ) và có nhiều sáng tạo phong phú.
+ Ngôn ngữ: gần gũi với lời ăn tiếng nói dân tộc, so sánh ví von, thi liệu thành ngữ, tục ngữ, ca dao...
                    Nhớ gì như nhớ người yêu
                    Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương
(Việt Bắc)
+ Chiều sâu của tính dân tộc trong thơ TH là ở nhạc điệu:
"Âm nhạc như hồn của dân tốc, theo sát các ý thơ của TH, làm cho hiện đai mà vẫn rất VN". (Chế Lan Viên)
                    Em ơi Ba Lan mùa tuyết tan
                    Đường bạch dương sương trắng nắng tràn
(Em ơi... Ba Lan)
Ở đây, TH đã phát huy cao độ tính nhạc nhờ việc sử dụng các từ láy, thanh điệu và vần thơ. Nghệ thuật hướng về tình truyền thống hơn là sự tìm tòi đổi mới. Thành công của thơ TH là minh chứng cho sự kết hợp nhuần nhuyễn hai yếu tố CM và dân tộc trong hình thứ đẹp đẽ của thơ ca.

Phong cách nghệ thuật thơ Hồ Chí Minh

Hồ Chí Minh không phải chỉ có tâm hồn nghệ sĩ chứa chan cảm xúc mà Người còn là một tài năng nghệ thuật, là một nghệ sĩ thực thụ. Là một tác gia lớn có vai trò quan trọng trong nền văn học Việt Nam, phong cách thơ đã làm nên một diện mạo riêng cho thơ Bác.


1. Quan điểm nghệ thuật:

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ tự nhận mình là một nhà thơ hay nhà văn mà chỉ là người bạn của văn chương, người yêu văn nghệ "Ngâm thơ ta vốn không ham". Nhưng trong thực tế, cùng với sự nghiệp cách mạng lớn lao, Bác vẫn làm thơ và để lại nhiều tác phẩm văn chương có giá trị nghệ thuật cao.

Sáng tác của Người hết sức phong phú, đa dạng về phong cách nghệ thuật. Tại sao lại có hiện tượng đó trong sáng tác của Người? Bác rất yêu và coi trọng văn chương nghệ thuật, coi trọng người nghệ sĩ, tâm hồn dễ tràn trào cảm xúc trước cái đẹp. Trên con đường hoạt động cách mạng, Bác nhận ra rằng, văn chương nghệ thuật có sức mạnh như một vũ khí đấu tranh lợi hại, tác dụng giáo dục to lớn. Người nắm lấy nó, màu sắc nó để phục vụ sự nghiệp cách mạng của người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa. Do con đường đến với văn chương như vậy nên Bác coi sáng tác văn chương cũng là một hành vi cách mạng. Hiện tượng có vẻ như nghịch lý trong văn chương nhưng lại rất nhất quán trong quan điểm sáng tác ở Người.

Quan điểm sáng tác đó, trước hết coi hành vi sáng tác phải phục vụ đắc lực cho sự nghiệp cách mạng: Viết cho ai, viết để làm gì, viết như thế nào?

Thơ xưa yêu cảnh thiên nhiên đẹp
Mây gió trăng hoa tuyết núi sông
Nay ở trong thơ nên có thép
Nhà thơ cũng phải biết xung phong.
(Cảm tưởng đọc Thiên gia thi)
Như vậy, Hồ Chí Minh không phải chỉ có tâm hồn nghệ sĩ chứa chan cảm xúc mà Người còn là một tài năng nghệ thuật, là một nghệ sĩ thực thụ.

2. Đặc điểm phong cách thơ nghệ thuật:

a) Đặc điểm nổi bật trong phong cách thơ của Người là hết sức ngắn gọn, súc tích, trong sáng, hồn nhiên, tự nhiên. Nhưng bình dị mà không đơn điệu.

Bác là người rất giàu tinh thần sáng tạo, không chịu bó mình trong những nghi lễ, những công thức cứng nhắc, vì vậy thơ Bác mang nội dung hết sức sâu sắc, phong phú. Giữa chiến khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến gian khổ, bài "Cảnh khuya" như một bức tranh thủy mặc trong sáng, thanh cao bộc lộ tâm trạng đau đáu của một vị lãnh tụ suốt đời vì nước, vì dân:
Tiếng suối trong như tiếng hát xa
Trăng lồng cổ thụ bóng lồng hoa
Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ
Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà.

b) Thơ ca thể hiện sâu sắc và tinh tế vẻ đẹp tâm hồn của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Thơ của Người có thể chia làm hai loại: thơ tuyên truyền và thơ nghệ thuật. Những bài thơ nghệ thuật viết theo cảm hứng thẩm mỹ hầu hết là thơ tứ tuyệt cổ điển, bằng chữ Hán, mang đặc điểm của thơ cổ phương Đông "ý tại ngôn ngoại" với sự kết hợp hài hòa giữa màu sắc cổ điển với bút pháp hiện đại.

- Màu sắc cổ điển được thể hiện ở nhiều phương diện nghệ thuật:
   + Thể thơ, hình ảnh, tứ thơ.
   + Bút pháp chấm phá, tả cảnh ngụ tình.
   + Nhân vật trữ tình gắn bó, chan hòa với thiên nhiên, phong thái an nhiên tự tại.
- Bút pháp hiện đại:
   + Nhân vật trữ tình trong thơ Bác không phải là ẩn sĩ mà là một chiến sĩ chủ động trong mọi hoàn cảnh, vượt qua mọi khó khăn với tinh thần lạc quan cách mạng và phong thái hiên ngang tiến công trước quân thù. Tinh thần chiến sĩ ẩn trong hình tượng thi sĩ.
   + Mạch thơ, hình ảnh thơ luôn vận động, hướng về cách mạng, sự sống, ánh sáng, niềm vui.
Thơ nghệ thuật là tiếng nói sâu sắc và tinh tế nhất của tâm hồn Bác: vừa hồn nhiên, vừa thâm trầm, sâu sắc, vừa trẻ trung, hiện đại, vừa đậm phong vị cổ điển tràn đầy chất thép, chan chứa chất tình dạt dào cảm xúc trước thiên nhiên, tạo vật, con người, thấm đẫm chất nhân đạo.
Vần thơ của Bác vần thơ Thép
Mà vẫn mênh mông bát ngát Tình
(Hoàng Trung Thông)

Nhắn nhủ: Xin chào các bạn, đây là trang web mới chia sẻ về hành trình chinh phục một ngoại ngữ mới của mình - tiếng Trung. Hy vọng sẽ được các bạn đón nhận. Trang blog tại đây:
提醒:
大家好,这是我的新网站,分享我学习一门新外语——中文的历程。希望能得到大家的支持和喜爱。博客地址在这
里: