Hiển thị các bài đăng có nhãn thơ. Hiển thị tất cả bài đăng

Sợi tóc nhỏ - Nguyễn Hồi Thủ

Từng lời thơ nhẹ nhàng mà như gợi lên cả bầu trời giông tố đang kéo về lòng người khi ai đó bước đi. Trong tình yêu, "một giây mơ màng ta đã đánh mất nhau", thế nên ai cũng hoang hoải sợ ngày "tan tác đôi nơi mỗi đứa một đời". Blog Làm văn nghị luận gửi đến bạn đọc bài thơ "Sợi tóc nhỏ" của Nguyễn Hồi Thủ - với từng thi từ êm ái mà nặng ưu tư của người đang yêu.

Sợi tóc nhỏ - Nguyễn Hồi Thủ - Blog Làm văn nghị luận



Những nét chính của phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên qua Tiếng hát con tàu

Blog Làm văn nghị luận hôm nay muốn nhắc tới một nhà thơ lớn với những trang thơ đậm chất cá nhân trong SGK Ngữ văn 12 - Chế Lan Viên. Là một nhà thơ lớn, thơ CLV đã đi qua và chiếm lĩnh cả ba đỉnh cao ở ba thời kỳ tiêu biểu nhất của thơ ca Việt Nam thế kỉ XX: thời kỳ Thơ mới lãng mạn, Thơ ca Kháng chiến và thời kỳ Đổi mới sau 1986. Ông được đánh giá là một nhà thơ có phong cách đặc sắc và nổi bật.

Những nét chính của phong cách nghệ thuật thơ Chế Lan Viên qua "Tiếng hát con tàu" - Blog Làm văn nghị luận

Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên

Tiếng hát con tàu của nhà thơ Chế Lan Viên là "khúc hát về lòng biết ơn, tình yêu và sự gắn bó với nhân dân, đất nước của một hồn thơ đã tìm thấy ngọn nguồn nuôi dưỡng và chân trời nghệ thuật mới của mình ở đời sống của nhân dân và đất nước". - Cùng Blog Làm văn nghị luận làm rõ ý kiến trên qua bài viết này nhé.

Tiếng hát con tàu - Chế Lan Viên - Blog Làm văn nghị luận

"Chế Lan Viên là một nhà thơ lớn của chúng ta trong thế kỉ XX, một nhà hơ của đất nước. Suốt đời anh đã sống cho đất nước, cho thơ". (Nguyễn Văn Hạnh)

Có thể nói chính "ánh sáng và phù sa" của cuộc đời mới đã gột rửa hết những tư tưởng và cảm xúc siêu hình cũ, phá tung sự chật chội của cái lồng cá nhân để nhà thơ dang cánh bay thẳng vào bầu trời nhân dân cao rộng, dùng "ánh sáng của lí tưởng làm vũ khí, phù sa của cuộc sống mới làm chất ngọt nuôi thơ". (Vũ Tuấn Anh)

"Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét
Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng
Như xuân đến chim rừng lông trở biếc.
Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương".
Chế Lan Viên đã dùng những hình ảnh thể hiện quy luật ngàn đời rất gần gũi nhưng lại vô cùng độc đáo và mới mẻ. Vị ngọt của tình yêu đôi lứa ví như cái rét ngọt của lúc đông về, như "cánh kiến hoa vàng", như "chim rừng lông trở biếc" mỗi xuân về. Tất ca nỗi nhớ ấy được khái quát lên thành tình yêu quê hương, đất nước. Chế Lan Viên đã rút ra một triết lí giản dị mà sâu xa, đó là sự hòa quyện giữa cái "tôi" với cái "ta", giữa tình yêu đôi lứa với tình yêu của con người, yêu quê hương, Tổ quốc:
"Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương"
Và:
"Khi ta ở, chỉ là nơi đất ở
Khi ta đi, đất đã hóa tâm hồn"
Đất là nơi ta đến và đi, nơi ta sinh sống, làm nhà, trồng rau, cày ruộng,... Nó quan trọng, gần gũi và gắn bó với con người đến nỗi "khi ta ở", ta dường như quên mất sự hiện diện của nó, đến "khi ta đi", ta mới chợt nhớ đến nao lòng. Chính nỗi nhớ tha thiết ấy cùng với tình yêu là chất xúc tác diệu kì gắn kết cái riêng với cái chung, cái xa lạ thành gần gũi, biến những gì nhỏ bé thành lớn lao, cao cả... Phải chăng, chính nhờ lẽ đó mà tiếng hát nhớ thương kia đã thức dậy trong lòng ta tình yêu đất nước?
Con tàu tâm tường ấy đi theo lời vẫy gọi, mời gọi tha thiết của cuộc đời để rồi vun vút lao đi trong niềm vui sướng, yêu thương "Nơi nao qua lòng lại chẳng yêu thương", bởi "Tình yêu là đất lạ hóa quê hương". Con tàu đấy đang "đói những vành trăng", đang giục giã "gọi anh đi", khi chất chứa bao nỗi niềm, khát vọng "Lấy cả những cơn mơ! Ai bảo con tàu không mộng tưởng?"; khi lại đầy mơ mộng, lãng mạn "Mỗi đêm khuya không uống một vầng trăng"... Tất cả, tất cả làm nên con tàu của một hồn thơ hối hả, náo nức, khát khao được giao cảm, hòa mình vào "suối lớn mùa xuân" của đất nước, nhân dân.
Con tàu tâm tưởng của nhà thơ như đang xuyên hiện tại để trở về quá khứ, đem theo đầy nặng những toa nhớ, toa thương về cảnh vật và con người Tây Bắc.

Tư tưởng Đất Nước của Nhân dân trong Đất Nước (trích Mặt đường khát vọng - Nguyễn Khoa Điềm)

Nét đặc sắc trong cảm nhận của Nguyễn Khoa Điềm ở đoạn trích "Đất Nước" (phần đầu chương V của trường ca) là những vẻ đẹp của đất nước được phát hiện ở chiều sâu, trên nhiều bình diện, tất cả được soi chiếu bởi tư tưởng chủ đạo: "Đất Nước của Nhân dân".

Viết về đất nước, Nguyễn Khoa Điềm sử dụng rất nhiều chất liệu văn hóa dân gian

Viết về "đất nước",  Nguyễn Khoa Điềm đã sử dụng rất nhiều chất liệu văn hóa dân gian. Loại chất liệu đặc biệt này đã đem lại hiệu quả thẩm mỹ đặc biệt, tạo ra sức cuốn hút độc đáo cho đoạn thơ. Cùng Blog Làm văn nghị luận làm rõ ý kiến trên qua bài viết.

Phân tích đoạn thơ trong bài "Việt Bắc" của nhà thơ Tố Hữu

Điều còn lại của mỗi nhà văn chính là cái giọng nói riêng của chính mình. Tố Hữu đã làm nên cho mình một thế riêng, một chân dung tinh thần riêng. Thơ Tố Hữu đậm đà tính dân tộc, mang khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn, trữ tình với giọng điệu thiết tha, ngọt ngào... Tất cả những yếu tố ấy đã làm nên một phong cách thơ rất Tố Hữu, không lẫn vào bất kỳ một cây bút khác được.


Xuân Diệu đã cung cấp nguồn vật liệu mới để xây cao nền thi ca Việt Nam

Là một thi sĩ có diện mạo riêng trên thi đàn Văn học Việt Nam, Xuân Diệu được Hoài Thanh nhận định là một hồn thơ "thiết tha, rạo rực, băn khoăn". Đóng góp của ông không dừng lại ở đó, "Xuân Diệu đã cung cấp nguồn vật liệu mới để xây cao nên thi ca Việt Nam" và ta có thể nhận thấy điều đó một cách rất rõ ràng qua ba bài thơ tiêu biểu "Vội vàng, Thơ duyên, Đây mùa thu tới".


Đề bài: Anh/chị hãy phân tích ba bài thơ "Vội vàng, Thơ duyên, Đây mùa thu tới" để chứng minh cho nhận định "Xuân Diệu đã cung cấp nguồn vật liệu mới để xây cao nền thi ca Việt Nam".
Dàn ý:

1. Mở bài

2. Thân bài:

a. Giải thích:

- Vật liệu mới: nội dung, nghệ thuật mới mẻ mà Xuân Diệu đã sáng tạo nên qua những câu thơ độc đáo, đóng góp cho nên thơ ca hiện đại.
Xuân Diệu được xem là "nhà thơ mới nhất trong các nhà thơ mới" -  cái mới mà ông đem đến đó chính là những "vật liệu mới để xây cao nền thi ca Việt Nam". Ông được bình chọn là gương mặt tiêu biểu và xuất sắc trong phong trào Thơ mới, được xem là ông hoàng thơ tình ái, tiêu biểu cho phong cách của chàng thi sĩ đa tình đa tài này là ba bài thơ "Vội vàng, Thơ duyên, Đây mùa thu tới".

b. Phân tích chứng minh

- Cái mới mà Xuân Diệu đem đến cho thi ca không chỉ là những hình ảnh thơ, giọng thơ, vần thơ... mà ngay từ trong từng ngôn từ, từng câu chữ, từng vần điệu đã gợi nên những cảm giác và liên tưởng mới mẻ, táo bạo.
- Phân tích "Thơ duyên": Tình yêu đẹp giữa thiên nhiên tình tự
Bức tranh thiên nhiên:
+ "Chiều mộng, nhánh duyên", bầu trời "đổ trời xanh ngọc qua muôn lá", âm thanh "động tiếng huyền", thu mô hồ, dịu dàng, du dương trong nhịp tim yêu.
+ Con đường "lả lả, xiêu xiêu"...
"Câu thơ chỉ mất đi một tí rõ ràng để thêm rất nhiều thơ mộng" (Hoài Thanh)
=> Buổi chiều thu chỉ có trong thơ Xuân Diệu với hình ảnh, âm thanh, đường nét riêng.
Bức tranh tình yêu:
+ Tình yêu trong thơ ca: Thơ xưa (dẫn chứng). Tình yêu trong "Thơ duyên" là tình yêu mới chớm nở, có sự rụt rè, bối rối:
"Em bước điềm nhiên không vướng chân
Anh đi lững thững chẳng theo gần
Bâng khuâng nhưng giữa bài thơ dịu
Anh với em như một cặp vần"
+ Biểu hiện  bên ngoài: "điềm nhiên, lững thững, nghe ý bạn", bên trong lòng lại "lần đầu rung động nỗi thương yêu". Nghệ thuật so sánh "Anh với em như một cặp vần" thể hiện sự tâm đầu ý hợp, gắn bó, để rồi "Lòng anh thôi đã cưới lòng em" (cưới)
"Tình trong như đã mặt ngoài còn e" (Nguyễn Du)
- Phân tích "Vội vàng": Bản tuyên ngôn sống thiết tha, rạo rực, băn khoăn của thi nhân.
Cảm nhận của nhà thơ về thiên nhiên:
+ Thiên đường trên mặt đất và mùa xuân là mùa yêu.
+ Quan niệm về thời gian
+ Quan niệm sống: khát sống, thèm yêu
Yếu tố nghệ thuật: lối vắt câu trùng điệp, động từ mạnh mẽ, cách dùng từ "tôi" - "ta", từ loại...
- Phân tích "Đây mùa thu tới"
Bức tranh mùa thu đẹp, buồn, nhuốm vẻ tàn phai, rơi rụng. Lối dùng từ diễn đạt, hình ảnh mới mẻ: "hơn một, rủa, run rẩy rung rinh, Đôi nhánh khô gầy sương mỏng manh"...
Niềm khát khao giao cảm với đời, đôi mắt thời gian...
- Ý nghĩa của sự đổi mới của Xuân Diệu mang đến: Tạo nên nét riêng mới mẻ, góp phần làm phong phú cho thi ca. Hiện đại hóa thơ ca.
- Xuân Diệu đem đến sự mới mẻ là do cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ, ảnh hưởng của thơ ca tượng trưng Pháp.

"Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc" của nhà thơ Quang Dũng

Bằng một nét rất riêng, đậm dấu ấn sáng tạo và đầy cá tính, Quang Dũng đã dựng nên bức tượng đài người lính - anh "vệ trọc", "đoàn binh không mọc tóc" đầy ấn tượng mới mẻ và sâu sắc trong lòng bao độc giả qua bài thơ "Tây Tiến".


Đề bài: Phân tích đoạn thơ sau trong bài "Tây Tiến" của Quang Dũng:

Vài quan niệm văn chương của các nhà văn lớn

Đối với dạng bài làm văn nghị luận, để bài viết trở nên có chiều sâu và "nặng kí" hơn, hẳn người viết phải đưa vào đó lí lẽ và lập luận mang tính triết lí của các nhà văn lớn. Blog xin trích dẫn vài quan niệm về văn học nghệ thuật của một vài người "nghệ sĩ của ngôn từ" sau.



"Văn học nghệ thuật là một cái gì phải kinh qua sự phê phán, nhận xét của đông đảo của quần chúng, lại kinh qua sự gạn lọc của thời gian. Trừ những sáng tác hiển nhiên có hại, còn thì đối với tất cả những sáng tác của bất cứ ai, viết về bất cứ đề tài gì, không thể nhìn qua một lượt rồi phân loại một cách khinh suất như người ta phân loại thức ăn: cái này tươi, cái này ươn... v.v 
Ai cũng có quyền phê bình nhận định, nhưng sự phê bình vẫn phải xuất phát từ những động cơ thật tốt: thương yêu bạn bè, đem tình đem lý ra mà bình tĩnh bàn bạc để xây dựng cho từng tác giả, từng tác phẩm và nhằm vào mục đích cuối cùng là đẩy phong trào văn học tiến triển mãi lên, nẩy nở mãi ra, chứ không đập túi bụi cho nó tàn lụi đi, đưa vào cớ này hay cớ khác. Hết sức tránh sự hàm hồ, nóng nảy và (như người ta vẫn thường nói:) thô bạo" 

Nhà văn Sơn Nam 



"Trong văn học, chúng ta phải kịp thời vạch ra và đấu tranh với những khuynh hướng tư tưởng xấu, nhưng nhất thiết chúng ta phải phân biệt cho được những phần tử mang động cơ xấu lợi dụng ngòi bút với những người cầm bút có những phút yếu đuối, và những người cầm bút chân chính luôn luôn tìm tòi, thể nghiệm, cho nên đã có những bước vấp váp. Với những bước vấp váp ấy, phê bình cần phải chỉ ra nhưng không nên thành kiến, lại càng không nên lấy đó để kết luận, ràng buộc vào cả một cuộc đời, một sự nghiệp......... 

Những người lớn chúng ta có một cái tật xấu là chuyên viết những cuốn sách khuyên trẻ con đi phiêu lưu, còn mình thì ngồi nhà, để không bao giờ phải trả giá. Cái tiêu chuẩn cuối cùng để định giá cuộc đời một nhà văn, một người nghệ sĩ nói chung là chất lượng những tác phẩm anh ta đem đến cho mọi người, chứ không phải một vài bước vấp váp trên đường tìm kiếm. 
......Tác phẩm thì nhiều mà các tờ báo văn học của ta chỉ đủ sức in một bài phê bình về một cuốn sách. Tác phẩm bị chê hay được khen trong một bài trở thành thứ định mệnh đã an bài. Nếu người phê bình đúng thì không sao, nhưng có thể sai, có thể có những ý kiến không thích đáng chứ?Như chúng ta thường biết, sự thật cuối cùng bao giờ cũng nảy ra bằng trao đổi, tranh luận. Làm sao để cho có không khí trao đổi, tranh luận trong văn học thật cởi mở và bổ ích?" 

Nhà văn Nguyễn Minh Châu 


"Để cứu vãn văn bản - có nghĩa là, để biến nó từ một ảo tưởng về ý nghĩa đến sự tự ý thức rằng ý nghĩa là vô định- người đọc phải nghi ngờ rằng mỗi dòng chữ của nó nhượng mình cho một ý nghĩa bí mật khác; chữ nghĩa, ngược lại cái nó nói ra, giấu kín cái không nói; vinh quang của người đọc chính là khám phá ra rằng văn bản có thể nói bất cứ điều gì, trừ cái điều mà tác giả của nó muốn nó mang nghĩa; vừa vào lúc một ý nghĩa được cho là khám phá ra, chúng ta lại chắc chắn là nó không phải là cái có thực; cái có thực là cái cần phải thêm vào hơn nữa và cứ như thế mà tiếp tục; những người hylics - những kẻ thua cuộc - là những người chấm dứt quá trình bằng cách nói rằng "TÔI ĐÃ HIỂU". 

Nhà nghiên cứu Umberto Eco

Tác phẩm nghệ thuật thực sự bao giờ cũng làm cho độc giả sửng sốt

Có ý kiến cho rằng: Tác phẩm nghệ thuật thực sự bao giờ cũng làm cho độc giả sửng sốt bởi tính chân thực, tính tự nhiên, tính đúng đắn, tính thực tế đến mức khi đọc nó, bất giác ta tin tưởng sâu sắc rằng: Tất cả những gì được kể trong đó đều diễn ra đúng như thế chứ không thể khác được.

(Biê-lin-xki)Anh/chị hãy bình luận ý kiến trên.

Dàn ý tham khảo

1. Mở bài:

Tác phẩm lớn là gì? Bốn mươi triệu dân của đất nước Tây Ban Nha được nhân loại biết đến và kính trọng bằng một lão gàn vĩ đại vì mang trên mình tính ảo tưởng muôn đời của toàn thể nhân loại. Và gắn với một tỉ người của đất nước Trung Hoa được nhân loại thấu hiểu sâu sắc bằng một anh chàng nông dân A.Q. Cả Đông Ki sốt lẫn A.Q chẳng hề làm xấu Tây Ban Nha lẫn Trung Quốc, mà làm đẹp cho cả hai đất nước này. (Nguyễn Minh Châu). Đã bao thời đại đi qua, văn học luôn tồn tại một câu hỏi lớn: thế nào là một tác phẩm nghệ thuật chân chính thực sự? Bàn về giá trị của một tác phẩm nghệ thuật chân chính, Biê-lin-xki cho rằng:
"Tác phẩm nghệ thuật thực sự bao giờ cũng làm cho độc giả sửng sốt bởi tính chân thực, tính tự nhiên, tính đúng đắn, tính thực tế đến mức khi đọc nó, bất giác ta tin tưởng sâu sắc rằng: Tất cả những gì được kể trong đó đều diễn ra đúng như thế chứ không thể khác được."

2. Thân bài:

a. Giải thích:
- Tác phẩm nghệ thuật thực sự có tính chân thực, tính tự nhiên, tính đúng đắn, thực tế. Tất cả phải gắn liền với thực tế đời thường và xuất phát từ chất liệu hiện thực, không là "ánh trăng lừa dối". Và dĩ nhiên, phải phản ánh một cách chính xác, tự nhiên, vừa phải mang một ý nghĩa nhân văn sâu sắc.

Grandi từng nói: Không có nghệ thuật nào là không hiện thực. Cuộc sống vốn là nơi bắt đầu và cũng là đích đến của văn chương nghệ thuật. Hơn bất cứ một loại hình nghệ thuật nào, văn học gắn bó chặt chẽ với hiện thực cuộc sống và bắt rễ hút nhựa sống từ nguồn sống dồi dào đó.

- Chính những yếu tố giản dị và chân thực ấy sẽ khiến cho độc giả phải sửng sốt, suy ngẫm, tin tưởng và "Tất cả những gì được kể trong đó diễn ra đúng như thế chứ không thể khác được". Tác phẩm khi ấy sẽ không còn là những con chữ ở trên trang giấy nữa, mà nó sẽ sống, mang sức sống nội tại, ngay chính trong tâm hồn của người đọc.

Tác phẩm nghệ thuật sẽ trở thành chết nếu nó miêu tả cuộc sống chỉ để miêu tả, nếu nó không phải là tiếng gào thét của nỗi đau khổ hay lời ca của nỗi vui mừng, nếu nó không phải là một câu hỏi hoặc là sự trả lời câu hỏi đó. (Biê-lin-xki)

- Tính chân thực, tự nhiên, đúng đắn làm cho tác phẩm thực sự trở nên sống động, có hồn. Những diễn biến, tình tiết qua ngồi bút của người nghệ sĩ sẽ biến câu chuyện diễn ra theo một mạch ngầm tự nhiên, lôi cuốn như chính đời thực đang diễn ra trong tâm tưởng độc giả.

Đâu phải lỗi tại tôi nếu sự thực tự nó nói lên và nói lên to như thế. (Ban-dắc)
Trong cuốn tiểu thuyết của tôi, nhân vật mà tôi yêu bằng tất cả sức mạnh tâm hồn, nhân vật mà tôi cố gắng tái hiện với tất cả vẻ đẹp của nó, nhân vật đã, đang và sẽ luôn đẹp, đó là sự thật. (Lep Tôn xtôi)

b. Chứng minh:
- Chứng minh qua các tác phẩm nước ngoài kinh điển: Chiến tranh và hòa bình, An-na Ca-rê-ni-na, Tấn trò đời.
- Chí Phèo (Nam Cao):
Tác phẩm tái hiện vô cùng chân thực và sâu sắc hiện thực xã hội, trào lưu văn học Hiện thực phê phán 1930-1945.
Miêu tả nội tâm nhân vặt, hành động, tính cách. (nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật bậc thầy)
Qua số phận của một con người, ta nhận ra bóng dáng của cả thời đại, nhận ra bức tranh hiện thực rộng lớn của xã hội nhân vật đang sống.

Người viết văn là một người rất nặng nợ với đời. Cuộc đời của anh ta là một cuộc đời không bao giờ được phép ngừng lăn lộn trong cuộc sống thực tế, không bao giờ ngưng nghiên cứu và quan sát. (Nguyễn Minh Châu)

c. Bình luận:
- Tạo nên chất hiện thực cao độ cho tác phẩm, nhà văn đã thành công khi xây dựng được nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình. Điển hình càng sinh động, giá trị phản ánh hiện thực càng cao độ, càng sâu sắc.
- Nhà văn không bê nguyên si cuộc sống vào trang viết một cách khô cứng, mà là, qua ngồi bút nghệ thuật sắc sảo dưới cái nhìn mơi mẻ, tinh tế, "khơi những nguồn chưa ai khơi".
- Tác phẩm phải mang giá trị nghệ thuật và nhân văn sâu sắc mới đủ sức sống lâu dài, chiếm được niềm tin và sống mãi trong lòng độc giả.
Đi đến tận cùng của sự giản dị, người ta sẽ thấy được sự thâm thúy sâu xa, đi đến tận cùng của những điều lớn lao, người ta mới ngỡ ngàng vì sự chân thực và gần gũi của nó.

Bản thân hiện thực là sự hướng dẫn, bản thân nó là tác phẩm, bản thân nó là bài ca hùng tráng, bài ca trữ tình, nó thành thật dâng sẵn, đón chờ? (Phạm Văn Đồng)

3. Kết bài:

Mọi lí thuyết chỉ là màu xám, chỉ cây đời mãi mãi xanh tươi. (Gớt)

Một số đề ôn thi đại học - cao đẳng

Blog Làm văn nghị luận gửi đến bạn đọc một số dạng đề tham khảo xoay quanh các tác giả, tác phẩm trong chương trình Ngữ văn 11, 12.


A. PHẦN VĂN XUÔI


I. CHỮ NGƯỜI TỬ TÙ - Nguyễn Tuân.


Đề 1: Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn của viên quan coi ngục trong “Chữ người tử tù” (Nguyễn Tuân) và vẻ đẹp tâm hồn nhân vật Đan Thiềm trong “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài” (Nguyễn Huy Tưởng)
Đề 2: Cảm nhận cảnh cho chữ trong “Chữ người tử tù” và cảnh vượt thác trong “Người lái đò Sông Đà”.

II. HẠNH PHÚC CỦA MỘT TANG GIA (trích Số đỏ) - Vũ Trọng Phụng.

Đề 1: Phân tích nghệ thuật trào phúng đặc sắc của Vũ Trọng Phụng trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”. Hoặc phân tích niềm vui sướng của đám con cháu trong chương “HP của một tang gia”.

III. VĨNH BIỆT CỬU TRÙNG ĐÀI (trích Vũ Như Tô) - Nguyễn Huy Tưởng.

Đề 1: Cảm nhận bi kịch Vũ Như Tô trong đoạn trích “Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài”.

IV. AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG ? (trích) - Hoàng Phủ Ngọc Tường.

Đề 1: Cảm nhận vẻ đẹp của sông Hương đoạn từ thượng nguồn đến chảy qua thành phố Huế.

V. NHỮNG ĐỨA CON TRONG GIA ĐÌNH (trích) - Nguyễn Thi.

Đề 1: Phân tích màn đối thoại của Việt và Chiến trong đêm trước ngày đi tòng quân.
Đề 2: Phân tích vẻ đẹp tuổi trẻ miền Nam thời chống Mỹ qua hai nhân vật Việt và Chiến.

VI. HỒN TRƯƠNG BA, DA HÀNG THỊT (trích) - Lưu Quang Vũ.

Đề 1: Phân tích ý nghĩa triết lý của màn đối thoại Hồn – Xác.
Đề 2: Phân tích màn đối thoại giữa Trương Ba và Đế Thích.
Đề 3: Phân tích tấn bi kịch Trương Ba trong đoạn trích “Hồn Trương Ba, da hàng thịt”

VII. MỘT NGƯỜI HÀ NỘI – Nguyễn Khải.

Đề 1: Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn nhân vật bà Hiền – “hạt bụi vàng” của Hà Nội.

VIII. ĐỜI THỪA – Nam Cao.

Đề 1: Phân tích tấn bi kịch tinh thần của nhà văn Hộ. (So sánh bi kịch Vũ Như Tô)
Đề 2: Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm “Đời thừa”.

IX. CHIẾC THUYỀN NGOÀI XA – Nguyễn Minh Châu.

Đề 1: Phân tích nhân vật Phùng.
Đề 2: Phân tích truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” để làm rõ mối quan hệ giữa nghệ thuật và đời sống.
Đề 3: Phân tích giá trị nhân đạo của tác phẩm “Chiếc thuyền ngoài xa”.

X. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP

Đề 1: Phân tích nghệ thuật lập luận sắc bén và giàu tính luận chiến trong Tuyên ngôn độc lập của Hồ Chí Minh.

PHẦN THƠ:

I. VỘI VÀNG (Xuân Diệu) – Rất quan trọng.

Đề 1: Cảm nhận của anh/chị về quan niệm thời gian qua đoạn thơ sau trong bài thơ "Vội vàng" của Xuân Diệu:
“Xuân đang tới nghĩa là xuân đương qua
….
Nhanh lên thôi mùa chưa ngả chiều hôm”
Đề 2: Cảm nhận của anh chị về cái tôi trữ tình qua đoạn thơ sau trong bài thơ Vội vàng của Xuân Diệu:
“Ta muốn ôm
Hỡi Xuân Hồng ta muốn cắn vào ngươi”

II. SÓNG - Xuân Quỳnh. (Quan trọng , học hết nhé)

Đề 1: Cảm nhận đoạn thơ "Dữ dội và dịu êm...khi nào ta yêu nhau".
Đề 2: Cảm nhận vẻ đẹp tâm hồn người phụ nữ đang yêu qua đoạn thơ "Trước muôn trùng sóng bể...Hướng về anh một phương"
Đề 3: Cảm nhận đoạn thơ "Con sóng dưới lòng sâu... Hướng về anh một phương"
Đề 4:
"Con sóng dưới lòng sâu... Để ngàn năm còn vỗ"
Đề 5: So sánh :
Tôi muốn tắt nắng đi
Cho màu đừng nhạt mất
Tôi muốn buộc gió lại
Cho hương đừng bay đi
(Vội vàng - Xuân Diệu)
Và đoạn:
"Làm sao được tan ra
Thành trăm con sóng nhỏ
Giữa biển lớn tình yêu
Để ngàn năm còn vỗ"
(Sóng - Xuân Quỳnh)

III. CHIỀU TỐI ( Hồ Chí Minh)

Đề 1: Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại của bài thơ “Chiều tối” – Hồ Chí Minh.
Đề 2: Cảm nhận của anh/chị về vẻ đẹp tâm hồn thi sĩ – chiến sĩ Hồ Chí Minh qua bài thơ “Chiều tối”.

IV. TỪ ẤY (Tố Hữu) (Rất quan trọng)

Đề 1: Cảm nhận của anh/ chị về về sự chuyển biến trong nhận thức và tình cảm của người chiến sĩ cách mạng qua bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu.
Đề 2: Cảm nhận của anh chị về hai đoạn thơ sau đây:
Tôi đã là con của vạn nhà
Là em của vạn kiếp phôi pha
Là anh của vạn đầu em nhỏ
Không áo cơm cù bất cù bơ
(Từ ấy – Tố Hữu)
Và :
Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa
Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa
(Tiếng hát con tàu – Chế Lan Viên)

V. TÂY TIẾN – Quang Dũng. Rất quan trọng.

Đề 1: Phân tích vẻ đẹp lãng mạn và bi tráng của hình tượng người lính thời chống Pháp qua bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng.
Đề 2: Phân tích vẻ đẹp lãng mạn của thiên nhiên và tâm hồn người lính qua đoạn thơ:
“Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa
Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”
Đề 3: Phân tích hình tượng người lính qua đoạn thơ:
“Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc
Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.
Đề 4: Cảm nhận bức tranh thiên nhiên và hình tượng người lính bộ đội cụ Hồ qua đoạn thơ sau:
“Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi
Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”

VI. VIỆT BẮC - Tố Hữu (quan trọng)

Đề 1: Cảm nhận tâm trạng nhân vật trữ tình qua đoạn thơ:
“Mình về mình có nhớ ta
Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay”
Đề 2: Cảm nhận vẻ đẹp của không khí kháng chiến thời kháng Pháp qua đoạn thơ sau:
“Những đường Việt Bắc của ta
Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng”
Đề 3: Bức tranh tứ bình Việt Bắc.
Đề 4: Cảm nhận đoạn "Mình đi có nhớ những ngày... Tân Trào , Hồng Thái, mái đình, cây đa"

VII. ĐÀN GHITA CỦA LORCA – Thanh Thảo

Đề 1: Cảm nhận hình tượng tiếng đàn qua đoạn thơ sau trong bài “Đàn ghita của Lorca” – Thanh Thảo:
"tiếng ghita nâu
long lanh trong đáy giếng"
Đề 2: Cảm nhận về đoạn thơ sau trong bài thơ “Đàn ghita của Lorca” – Thanh Thảo:
“đường chỉ tay đã đứt
lila – lila – lila”

Một số quan niệm về văn chương

Mỗi nhà văn luôn có một thế giới nghệ thuật riêng, nơi ấy, quan niệm về văn chương làm nên diện mạo riêng cho người cầm bút. Cùng điểm qua các quan niệm về văn chương của những cây bút tên tuổi như Nguyễn Tuân, Thạch Lam, Nam Cao... qua bài viết sau.


- Đối với tôi văn chương không phải là 1 cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên ; trái lại, văn chương là 1 thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có để tố cáo và thay đổi 1 cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người trong sạch và phong phú hơn.
(Thạch Lam)
- M.Gorki nói: văn học “ giúp con người hiểu được bản thân mình, nâng cao niềm tin vào bản thân mình và làm nảy nở ở con người khát vọng hướng tới chân lý.”
- Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia thoát ra từ những kiếp lầm than.
(Nam Cao – Trăng sáng)



* Bút chiến với nhóm Tự lực văn đoàn:

Các ông muốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn cùng chí hướng như tôi muốn tiểu thuyết là sự thực ở đời.
(Vũ Trọng Phụng)


* Nhận định về "chất thép" trong thơ Hồ Chí Minh:

Khi Bác nói trong thơ có thép ta cũng cần tìm hiểu thế nào là thép trong thơ. Có lẽ phải hiểu 1 cách rất linh hoạt mới đúng. Không phải cứ nói chuyện thép, lên giọng thép mới có tinh thần thép.




* Ý kiến về văn chương:


Văn chương có loại đáng thờ và loại không đáng thờ. Loại không đáng thờ là loại chỉ chuyên chú ở văn chương, loại đáng thờ là loại chuyên chú ở con người.
(Nguyễn văn Siêu)



* Vai trò quan trọng của tình cảm trong thơ:

- Thơ phát khởi trong lòng người ta.
(Lê Quý Đôn)
- Hãy xúc động hồn thơ cho ngọn bút có thần.
(Ngô Thì Nhậm)


* Quan điểm nghệ thuật văn chương:

- Văn hoá nghệ thuật là 1 mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy.
(Hồ Chí Minh)
- Văn chương không cần đến những người thợ khéo tay làm theo 1 vài kiểu mẫu đưa cho. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những cái gì chưa có.
(Nam Cao - Đời thừa)


- Nguyễn Tuân: Văn chương trước hết phải là văn chương, nghệ thuật trước hết phải là nghệ thuật.
- Raxun Gamzatốp: Giống như ngọn lửa bốc lên từ những cành khô, tài năng bắt nguòn từ những tình cảm mạnh mẽ của con người.
- Thơ sinh ra từ tình yêu và lòng căm thù, từ nụ cười trong sáng hay từ những giọt nước mắt đắng cay.

(trích trong "Đaghetxta của tôi")
- Lecmôntốp: Có những đêm không ngủ, mắt rực sáng và thổn thức, lòng ngập tràn nhớ nhung... khi đó tôi viết.
- Nêkratxôp: Nếu những nỗi đau khổ từ lâu bị kiềm chế, nay sục sôi dâng lên trong lòng thì tôi viết.- Tố Hữu: Mỗi khi có cái gì chất chứa trong lòng, không nói ra không chịu được thì lại thấy cần làm thơ.

- Bielinxki: Nhà thơ, ngay cả các nhà thơ vĩ đại nhất cũng phải đồng thời là những nhà tư tưởng.
- Viên Mai: Tài gia tình chi phát, tài thịnh tình tắc thêm (Nghĩa là "Tài là ở tình phát ra, tài ao ắt tình sâu")
- Enxa Triôlê: Nhà văn là người cho máu.
- Ngô Thì Nhậm: Phải xúc động hồn thơ thì ngọn bút mới có thần.
- Nguyên Hồng: Những gì tôi viết ra là những gì thương yêu nhất của tôi, những ước mong nhức nhối của tôi.
- Sóng Hồng: Thơ là sự thể hiện con người và thời đại một cách cao đẹp.
- Anđecxen: Không có câu chuyện cổ tích nào đẹp hơn câu chuyện do chính cuộc sống viết ra.
- Secnưsepki: Cái đẹp là cuộc sống.
- Gorki: Người sáng tác là nhà văn và người tạo nên số phận cho tác phẩm là độc giả.
- Phạm Văn Đồng: Văn học, nghệ thuật là công cụ để hiểu biết, để khám phá, để sáng tạo thực tại xã hội.
- Vì thơ là nhuỵ của cuộc sống nên nhà thơ đi hút cho được cái nhuỵ ấy và phấn đấu sao cho cuộc đời của mình cũng có nhuỵ
- Xuân Diệu: Sáng tác thơ là một việc do cá nhân thi sĩ làm, một thứ sản xuất đặc biệt và cá thể. Anh phải đi sâu vào tâm hồn cá biệt của anh để nói cái to tát của xã hội, cái tốt đẹp của chế độ, để tránh cái khô khan, nhạt nhẽo, anh phải có cá tính, anh phải trau dồi cái độc đáo mà công chúng rất đòi hỏi. Nhưng đồng thời anh phải đấu tranh để cái việc sự sáng tạo ấy không trở thành anh hùng chủ nghĩa.
- Đặng Thai Mai: Điều quan trọng hơn hết trong sự nghiệp của những nhà văn vĩ đại ấy lại là cuộc sống- trường đại học chân chính của thiên tài. Họ đã biết đời sống của thời đại, đã sâu sắc cảm thấy mọi nỗi đau đớn của con người trong thời đại, đã rung động tận đáy tâm hồn với những nôi lo âu, bực bội tủi hổ và
những ước mong tha thiết nhất của loài người. Đó chính là cái hơi thở, sức sống của những tác phẩm vĩ đại.